Doanh nghiệp giới thiệu

Tổng Công ty 36
Công ty Nano
Áp lực Đông Anh
An Phát
Công ty Sigma Việt Nam
Công ty Cổ phần thiết bị giáo dục và Khoa học kỹ thuật Ngân Hà

Liên kết website

Nghi Lộc 1
Khóa 70-73
Du lịch Cửa Lò
Vũ Đăng Hiến
Nguyên Hùng
Lê An Tuyên

Trang nhất » Tin Tức » Gương mặt tiêu biểu

Đăng bài viết

Tìm hiểu Danh nhân lịch sử đất Nghi Lộc

Thứ hai - 26/08/2013 06:56


Nguyễn Xí

 
 

Nguyễn Xí, tên chữ Hán có nghĩa là ngọn lửa rực sáng (Xí) của họ Nguyễn, sinh năm Đinh Sửu (1397) tại làng Thượng Xá huyện Chân Phúc (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc) tỉnh Nghệ An. Mới hơn 9 tuổi đầu, ông đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, lớn lên từng chứng kiến nhiều biến thiên của lịch sử.

 









 





Đền thờ Nguyễn Xí tại xã Nghi Hợp huyện Nghi Lộc

 

Nguyễn Xí cùng với anh trai là Nguyễn Biện rời quê hương ra đất Lam Sơn, Thanh Hoá ở với Lê Lợi. Cũng trong thời gian đó, giặc Minh sang xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến chống quân Minh do nhà Hồ lãnh đạo đã thất bại, từ đó nước ta chìm đắm trong cảnh nước mất nhà tan. Giặc Minh đã sát hại dân ta cực kỳ man rợ. Chúng “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn.Vùi con đỏ xuống hầm sâu tai vạ”. Tội ác của giặc Minh chồng chất: “Thần người đều căm giận, trời đất chẳng dung tha”.

 Năm 1416, Lê Lợi bắt đầu dấy nghĩa chống giặc Minh xâm lược để cứu nước cứu nòi bằng việc dùng 18 chiến hữu mở hội thề Lũng Nhai. Hai anh em Nguyễn Biện, Nguyễn Xí đều có mặt. Tiếp đó, vào đầu năm Mậu Tuất (1418), ngọn cờ khởi nghĩa phất cao ở Lam Sơn, anh em Nguyễn Biện, Nguyễn Xí chính thức trở thành nghĩa quân. Năm đó, Nguyễn Xí 21 tuổi, đã cùng anh trai và các chiến hữu lập công đầu trong các trận đánh ở Lạc Thuỷ, Mường Thôi, Mỹ Mỹ thuộc các vùng thượng lưu sông Chu. Từ đây đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong cuộc đời ông. Ông đã gắn bó vơí sự nghiệp cứu nước của Lê Lợi và triều đại nhà Lê.

Mười năm nếm mật nằm gai, vào sinh ra tử Nguyễn Xí đã trở thành một vị tướng tài ba dũng cảm. Đặc biệt, trong trận đánh tiêu diệt địch lần cuối cùng tại Xương Giang, vai trò của Nguyễn Xí trong khi cùng Đinh Liệt chỉ huy 3000 quân thiết dột và 4 thớt voi để phối hợp tác chiến với các cánh quân khác của Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê Văn An ... là rất vẻ vang. Chiến thắng Chi Lăng và Xương Giang kết thúc thắng lợi, đất nước hoàn toàn giải phóng sau 20 năm chìm đắm dưới ách thống trị của giặc Minh. Bình Ngô Đại cáo vang dội khắp non sông.

Sau đại thắng, vào ngày 24/4/1428, Bình Định vương Lê Lợi lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Thuận Thiên (thuận theo ý trời). Nguyễn Xí trở thành một trong số đệ nhất khai quốc công thần, và được nhà vua thăng chức “Long hổ thượng tướng quân, suy trung bảo chính công thần”. Được ban quốc tính thuộc họ Lê gọi là Lê Xí.

Năm 1433, vua Lê Thái Tổ qua đời. Nguyễn Xí nhận di chiếu cùng mấy quận thần khác lập Thái tử Nguyên Long lên ngôi vua, tức Lê Thái Tông lúc mới 10 tuổi, với cương vị “phụ nhiếp chính triều đình” (giúp vua điều hành công việc triều chính). Năm 1437, được cử giữ chức tham tri chính sự kiện tri tư tụng.

Trong vương triều nhà Lê, Nguyễn Xí là người giữ nhiều chức vụ trọng yếu, góp phần to lớn để xây dựng đất nước, mở mang bờ cõi, củng cố chế độ nhà Lê. Khi đất nước bị ngoại xâm ông lại cầm quân đi đánh giặc, đó là năm Bính Tuất (1446) giặc Chiêm Thanh xâm phạm bờ cõi phía Nam. Cùng với các tướng trong triều Nguyễn Xí đã đánh thắng trận và bắt được rất nhiều tướng giặc. Đặc biệt, khi vương triều nhà Lê bị lâm vào cảnh Lê Nghi Dân giết Lê Băng Cơ và Hoàng Thái Hậu chiếm đoạt ngôi vua gây ra sự nhiễu loạn trong triều đình. Nguyễn Xí đã lập mưu giả mù để diệt trừ bọn phản loạn. Ông đã dũng cảm dẫm chết đứa con trai chưa đầy tuổi của mình để dẹp bỏ mối nghi ngờ của bọn phản nghịch, làm nên việc lớn. Sau khi dẹp bỏ được Lê Nghi Dân, Nguyễn Xí đưa Lê Tư Thành tức Lê Thánh Tông lên ngôi. Một vị vua anh minh, được sử sách đánh giá công nhận là một vương triều cực thịnh, toàn diện nhất trong chế độ phong kiến nước ta và một quốc gia cường thịnh ở vùng Đông Nam á. Cũng từ đó nhân dân lưu truyền mấy câu thơ: “Thiên hạ chưa yên mắt lão mù/Thiên hạ yên rồi mắt lão sáng/Việc đời như thế bèo chuyển xoay/Giã chè uống nữa tai nghe vắng”.

Nguyễn Xí có được công lao to lớn đối với đất nước bởi ông có một nhân cách cao cả mà đặc trưng cho điều đó là ông đã lấy sự bình yên của tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân để hành động, làm lý tưởng phụng sự, sẵn sàng hy sinh quyền lợi, hạnh phúc gia đình cho Quốc gia, dân tộc.

 

Trong cuộc đời làm quan phụng sự 4 triều đại vua Lê, Nguyễn Xí đã chứng kiến, thậm chí nếm mùi cay đắng và những thách thức chốn quan trường. Song ông vẫn một lòng một dạ trung trinh - được mệnh danh là người khai quốc công thần, mở mang đất đai bờ cõi non sông, bảo vệ từng tấc đất cha ông để lại. Không chỉ là một võ tướng tài ba, Nguyễn Xí còn là một nhà chính trị lỗi lạc đối với quốc nội và quốc ngoại thời kỳ đó. Ông đã có vai trò khá quyết định trong nhiều chính sách tiến bộ: chia quân ra làm 5 phiên, chỉ để một phiên tại ngũ còn lại cho về làm ruộng theo đường lối: động vi binh tĩnh vi dân (khi động thì làm lính, khi tĩnh thì làm dân) cho dân những nơi không có ruộng đất đến cày cấy ở những nơi thừa ruộng đất, cấm không được giữ đất để bỏ hoang, cho miễn thuế, miễn mọi thứ tạp dịch phu phen nhằm tạo sự an cư lạc nghiệp cho nhân dân ở các vùng mới khai phá...Bên cạnh đó ông còn có công lớn trong việc cảm hóa hàng binh Ngô, Minh, Chiêm Thành, tậu ruộng để họ sinh sống. Từng bước chuyển họ từ thân phận hàng binh nô lệ thành những công dân của nước Việt Nam. Về sau trong đại gia đình thuộc con cháu của Ngài Cương Quốc Công, ngoài 15 chi họ là con cháu đích thực, còn 3 chi họ con nuôi, chính là con cháu người Việt gốc Minh, gốc Chiêm, đã được ông thương yêu cảm hóa.

Những năm cuối đời phục vụ vương triều nhà Lê, lại là những năm tháng vinh quang của Ngài. Ông được vua Lê Thánh Tông hết lòng thương yêu và kính trọng. Trong lịch sử phong kiến nước nhà hiếm có một bề tôi nào lại được nhà Vua kính yêu, chăm sóc chu đáo đến tận những ngày cuối đời như ông. Lê Thánh Tông còn viết bài Chế dụ dành tặng cho Nguyễn Xí với lời lẽ hết sức trân trọng: "Xét Nguyễn Xí đây khí độ trầm hùng, tính người cương đại...Ra vào hết chức phận tướng văn tướng võ. Trước sau giữ trọn tiết làm tôi, làm con. Giữ mình có đạo, hồn nhiên như nước chẳng khoe tươi. Nghiêm mặt ở triều lẫm liệt như thanh gươm mới tuốt. Các quan đều ngưỡng mộ phong thái. Bốn biển đều ngưỡng vọng uy danh..."

Ngày Giáp thìn 30 tháng 10 năm ất Dậu (1465) Nguyễn Xí tạ thế hưởng thọ 69 tuổi. Nhà vua khi nghe tin đã bỏ ba ngày ngự triều và than rằng: "Từ khi khai quốc đến nay chẳng ai được như ngươi". Linh cửu của ông được quản tại điện kính thiên. trước ngày phát tang các quan văn võ đại thần đều hội tế theo nghi lễ quốc tang. Sau đó chuyển linh cửu về quê nhà ở Thượng Xá để an táng. Nhà vua còn truy tặng ông tước "Thái Sư cương quốc công, đặc ân khai quốc, Thụy Nghĩa vụ". Đến các triều vua sau tiếp tục phong cho ông mức cao nhất là "Thưởng thượng đặng tôn thần".

Với những cống hiến lớn lao cho đất nước, cho nhân dân, Nguyễn Xí đã được tôn vinh không chỉ lúc sinh thời với những chức phận trọng yếu khác nhau và cả sau khi qua đời công lao của ông vẫn được tỏa sáng. Hai năm sau khi ông mất nhà vua cho dựng đền thờ ông theo chế độ quốc lập (nhà nước dựng nên) và Quốc tế (nhà nước tế tự), sai trạng nguyên Nguyễn Trực viết văn bia để khắc vào đá. Đền thờ Nguyễn Xí được trùng tu quy mô nhất vào những năm 20 của thế kỷ XX do sự điều khiển của vị quản tộc là Tú tài hàn lâm viện đại chiếu Nguyễn Huy Côn (theo Le Brton – Levieux An Tĩnh). Hiện tại, đây là khu di tích  vào loại nguy nga nhất trên đất Nghệ An, được Bộ Văn hoá xếp hạng Di tích lịch sử – Văn hoá năm 1990. Hàng năm vào dịp 30  tháng giêng, mồng 1, mồng 2 tháng 2 âm lịch Huyện Nghi Lộc cùng với  UBND xã Nghi Hợp và dòng họ Nguyễn Đình đã long trọng tổ chức lễ mừng công để tưởng nhớ đến vị danh thần kiệt xuất của dân tộc Cương quốc công Nguyễn Xí.

Nguyễn Xí, đã từ một danh tướng, một danh nhân trở thành một danh thần. đối với lịch sử phong kiến ông không chỉ là một Thái Sư Cương Quốc Công mà trong dân gian, ông còn được huyền thoại hoá, vũ trụ hoá để vĩnh hằng hoá. Huyền thoại hoá thể hiện trong truyện kể cái chết bị hổ vồ của vị thân phụ Nguyễn Xí để có ngôi mộ hổ táng cho sự phát đạt một dòng họ. Vũ trụ hoá là trong việc gắn công lao sự nghiệp Nguyễn Xí với núi non quê hương xứ sở. Thiết nghĩ những tên núi ở quê hương Nguyễn Xí như núi Cờ (Kỳ Sơn), núi Mão (Mão Sơn), núi Gươm, núi Voi hẳn là đã được nhân dân trong vùng đặt ra sau khi có danh nhân danh thần Nguyễn Xí.

Uy danh của vị danh thần này đã vượt muôn ngàn núi non, trải qua bao biến thiên của lịch sử vẫn luôn được người đời đời sau ngưỡng vọng.Trong đền thờ ngài ngày nay, ngoài hoành phi câu đối của vua Lê Thánh Tông, còn có rất nhiều hoành phi do con cháu và khách thập phương cung phụng: "Bát loạn yên dân, nguyễn tướng uy hùng dương Bắc địa/ Bình Ngô khai quốc công thần cảnh liệt chấn Nam thiên" (Dịch nghĩa: "Tướng quân dẹp loạn yên dân vang lừng trên đất Bắc/ Trung thần bình Ngô dựng nước, oanh liệt rộn trời Nam".

Với tư cánh là một nhân vật lịch sử có tầm vóc lớn ông đã được tôn vinh dưới nhiều hình thức khác nhau. Ông vừa là nguồn cảm hứng sáng tác  trong văn chương vừa là một trong những người được biểu dưông công trạng bằng sử sách, thư tịch như: tộc phả,bi ký, thần tích, sử học…Điều đặc biệt nhất với ngài đó là đôi câu đối được vua Lê Thánh Tông ban tặng, được treo trang trọng ở điện thờ chính của ngài ngày nay: “Hà nhật tinh thiên thu chính khí/ Phụ tử huynh đệ vạn cổ anh phong” (Dịch nghĩa: Sông núi trời sao ngàn thu hùng khí/ Cha con anh em muôn thủa anh hào).

Cũng tại ngôi đền thờ này,để tỏ lòng ngưỡng vọng tới công đức Thái Sư các thế hệ con cháu đã trang trọng đặt bức tượng Đồng ghi tạc hình dánh của ngài ngay tại gian chính của điện thờ. Bức tượng là một sản phẩm nghệ thuật độc đáo. Vừa mang vẻ đẹp uy nghi, với những nét kiến trúc tinh xảo, vừa làm nổi bật được uy danh của vị danh tướng kiệt xuất Xứ Nghệ, xứng đáng với tầm vóc, công lao to lớn của người đối với lịch sử dân tộc Việt Nam.

 

Phạm Nguyễn Du

 
  Phạm Nguyễn Du sinh năm 1739; nguyên tên là Phạm Vĩ Khiêm, tự là Hiếu Đức, hiệu là Thạch Động tiên sinh. Ông là người làng Đặng Điền, Tổng Đặng Xá, huyện Châu Phúc (nay là xóm Tiên Lạc, xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông đậu Giải nguyên năm 1773, đậu Hội nguyên Hoàng giáp năm 1779, Triều Lê Cảnh Hưng.

Ông đã từng làm Giám sát ngự sử đạo Hải Dương, Thiêm sai dưới Triều Trịnh Sâm, Đông các Đại học sĩ và Đốc đồng Nghệ An.
Phạm Nguyễn Du là một vị quan thanh liêm, trung thực và có nhiều cống hiến lớn cho đất nước dưới thời vua Lê, chúa Trịnh, thế kỷ 18.
Phạm Nguyễn Du còn là một nhà văn hiện thực nổi tiếng ở thế kỷ 18, với nhiều tác phẩm có giá trị như: “Nam thành ký đắc tập”, “Đoạn trường lục”, “Thạch Động tiên sinh thi tập”, ” Độc sử si tướng”,...lưu lại dấu ấn khó phai mờ trong lịch sử văn học Việt Nam.

Phạm Nguyễn Du mất năm 1786 tại quê nhà, thọ 47 tuổi. Theo di huấn của ông, nhân dân và con cháu đã đem thi hài ông an táng tại mảnh vườn - nơi ông sinh ra và lớn lên. Đền thờ ông cũng được xây dựng cạnh đó 300 mét, tựa lưng vào khối núi Trượng Nhân Phong (còn gọi là núi Lập Thạch). ở đây phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, tĩnh lặng; nó góp phần tạo nên tâm hồn , tính cách của một nhà thơ tao nhã, tài hoa.

Các hậu duệ của ông và nhân dân trong vùng thường lui tới cúng thờ ông tại đền thờ này (Nhân dân quen gọi nơi này là Nhà thờ và Mộ Cụ Phạm Nguyễn Du).

Phạm Nguyễn Du đã dược ghi nhận là danh nhân của tỉnh Nghệ an và được xếp trong Danh sách các tác gia Việt Nam
Nhà thờ Phạm Nguyễn Du gồm một nhà bái đường và nhà hậu cung. Phía trước có đắp chữ nổi “Phạm Đại Tôn”. Trong nhà bái đường có một tấm bia đá với đầu đề “Phạm gia thạch ký”. Nội dung bia là tóm tắt tiểu sử gia đình và thân thế, sự nghiệp của ông. Trong hậu cung có lưu giữ nhiều tư liệu quý, giúp chúng ta hiểu sâu hơn về cuộc đời của một nhà nho thanh bạch, về những tục lệ của dân tộc và sự phát triển của dân tộc trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

Khu mộ Phạm Nguyễn Du được xây dựng trên một mảnh đất bằng phẳng 28m2, cách Nhà thờ 300 mét về phía đông - nam. Toàn bộ khu mộ được xây dựng bằng vữa tam hợp, cột quyết có câu đối, mộ chí bằng đá xanh, dài 0,5 mát, rộng 0,35 mét,...
Nhà thờ và mộ Tiến sĩ Hoàng giáp Đông các Đại học sĩ Phạm Nguyễn Du có giá trị cao về lịch sử – văn hoá, là một công trình kiến trúc có giá trị, làm rạng rỡ thêm cho truyền thống văn hiến của quê hương Nghệ An.

Năm 1996, Bảo tàng Nghệ An đã lập Hồ sơ khoa học để trình Bộ văn hoá - thông tin; và đến nay đã được Bộ văn hoá- thông tin công nhận là Di tích lịch sử -văn hoá cấp quốc gia.

 

Nguyễn Hữu Chỉnh

 

Nguyễn Hữu Chỉnh (?-1787) là tướng nhà Hậu Lê thời Lê mạt, một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tới lịch sử Việt Nam thế kỷ 18.
Nguyễn Hữu Chỉnh (阮有整) là người huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, Trấn Nghệ An nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, Việt Nam.
Báo thù cho chủ

Nguyễn Hữu Chỉnh thi đỗ Hương cống lúc mới 16 tuổi, nên còn gọi là Cống Chỉnh. Chỉnh dung mạo tuấn tú lại có tài ứng đối, lên 9 tuổi đã ứng khẩu làm được bài thơ "Vịnh cái pháo". Ông nổi tiếng ở kinh kỳ là người có tài ứng đối chữ nghĩa. Về võ, ông thi đỗ Tam trường.

 

Sách "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chép: "Hữu Chỉnh, lúc trẻ tuổi đỗ hương tiến, là người hào phóng không bó buộc vào khuôn phép. Du lịch kinh sư, Hữu Chỉnh vào yết kiến Hoàng Ngũ Phúc. Ngũ Phúc khen là có tài khác thường, dùng làm gia khách. Khi Ngũ Phúc vào xâm lấn trong Nam, cho Hữu Chỉnh đi theo quân thứ, giữ công việc thư kí, rồi sai đến Tây Sơn khuyên Văn Nhạc (tức Nguyễn Nhạc) quy thuận với triều đình, được Văn Nhạc kính trọng".Nguyễn Hữu Chỉnh từng làm thuộc hạ của quận Việp Hoàng Ngũ Phúc ở Đàng Ngoài. Sau khi quận Việp mất, ông tiếp tục làm thủ hạ cho cháu quận Việp là quận Huy Hoàng Đình Bảo, người được giao làm phụ chính cho Điện Đô vương Trịnh Cán, con nhỏ của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm lên ngôi lúc mới 5 tuổi.
Năm 1782, phe người con lớn của Trịnh Sâm là Trịnh Tông làm binh biến lật đổ Trịnh Cán, giết Hoàng Đình Bảo.
Nguyễn Hữu Chỉnh không hợp tác với Trịnh Tông, bỏ trốn vào Nam theo Tây Sơn và được vua Thái Đức Nguyễn Nhạc rất tín nhiệm.
Năm 1786, nhân có người bạn ở Phú Xuân vào chơi, Nguyễn Hữu Chỉnh hỏi dò tình hình Thuận Hóa bấy giờ đã thuộc về chúa Trịnh. Biết quân Trịnh chểnh mảng, ông hiến kế cho vua Thái Đức đánh ra Phú Xuân. Vua Thái Đức nghe theo, sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cùng Nguyễn Hữu Chỉnh mang quân bắc tiến.
Hữu Chỉnh lập kế ly gián giữa chủ tướng thành Phú Xuân là Phạm Ngô Cầu và phó tướng là Hoàng Đình Thể. Chỉnh vờ viết thư dụ hàng phó tướng Hoàng Đình Thể, nhưng lại cố ý gửi nhầm cho Cầu khiến Cầu nghi Thể và có ý hàng Tây Sơn. Quả nhiên khi quân Tây Sơn tập kích thành Phú Xuân, Cầu bỏ mặc Thể đánh nhau với quân Tây Sơn, không tiếp ứng. Thể chết trận, Cầu đầu hàng quân Tây Sơn nhưng cũng bị giết.
Trong lúc khí thế quân Tây Sơn đang hăng, Nguyễn Hữu Chỉnh hiến kế cho Nguyễn Huệ mang quân ra Bắc Hà diệt chúa Trịnh, lấy danh nghĩa "phù Lê". Nguyễn Huệ nghe theo, bèn để Nguyễn Lữ ở lại, còn mình cùng Chỉnh mang quân bắc tiến. Chỉnh làm tiên phong đi thẳng ra tập kích Vị Hoàng, đại quân Tây Sơn đánh như gió cuốn ra bắc. Quân Trịnh rệu rã thua trận, tan vỡ chạy. Chỉ sau 1 tháng, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, Trịnh Tông bỏ chạy không thoát bèn tự sát.
Sau khi Nguyễn Huệ yết kiến vua Lê Hiển Tông, Nguyễn Hữu Chỉnh lại sắp đặt Nguyễn Huệ lấy công chúa Lê Ngọc Hân, con gái thứ của vua Lê. Tại kinh kỳ, phe cánh họ Trịnh còn đông, nhiều người nói Hữu Chỉnh rước Tây Sơn ra để trả thù cho chủ.

Anh hùng thời loạn
Dẹp Án Đô vương

Vua Thái Đức không muốn Nguyễn Huệ đánh ra Bắc Hà nên thân hành ra bắc gọi em về. Anh em vua Tây Sơn biết Nguyễn Hữu Chỉnh là người dễ thay lòng đổi dạ nên không muốn dung nạp, lập kế đột ngột rút quân về nam. Nguyễn Hữu Chỉnh biết người ở Bắc Hà ghét mình (vì dẫn đường cho quân Tây Sơn), sợ bị họ giết nên khi phát hiện quân Tây Sơn rút đi, ông vội vã chạy theo. Nguyễn Huệ thấy vậy liền sai ông trấn thủ Nghệ An là đất giáp ranh giữa Tây Sơn và đất nhà Lê.

Ở Bắc Hà sau khi Tây Sơn rút, các tướng ủng hộ họ Trịnh như Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ, Dương Trọng Tế nổi dậy, dựng Trịnh Bồng làm chúa mới, tức là Án Đô vương, lại lấn át vua Lê mới là Chiêu Thống (cháu nội Hiển Tông).

Vua Lê nghe theo lời các văn thần, liền sai người vào Nghệ An mời Nguyễn Hữu Chỉnh dẹp họ Trịnh. Được danh chính là lời gọi của vua Lê, ông chiêu tập hơn 1 vạn quân, bắc tiến như chẻ tre. Quân Trịnh do Phan Huy Ích được cử đi đánh bị bại, Ích bị Chỉnh bắt sống. Sau đó quân Chỉnh đánh thốc ra Thăng Long, các tướng Trịnh thua trận bỏ chạy, Án Đô vương Trịnh Bồng bỏ đi mất tích. Chiêu Thống sai đốt phủ chúa. Họ Trịnh từ đó không quay lại ngôi vị được nữa.

Dẹp được chúa Trịnh, Nguyễn Hữu Chỉnh được vua Chiêu Thống phong là Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Ðại Tư Ðồ, Bằng Trung công.
Các tướng họ Trịnh cũ vẫn hoạt động chống lại nhà Lê. Nguyễn Hữu Chỉnh một tay đánh dẹp lần lượt đánh bại và giết cả Đinh Tích Nhưỡng, Dương Trọng Tế và Hoàng Phùng Cơ. Cả Bắc Hà khi đó không còn đối thủ, Nguyễn Hữu Chỉnh cậy quyền thế lại coi thường lấn át vua Lê.

Chim bằng gãy cánh

Sau đó, biết tin anh em Tây Sơn bất hoà, Hữu Chỉnh có ý chống đối lại Tây Sơn, mưu lập thế lực riêng như chúa Trịnh trước đây. Muốn mở rộng ảnh hưởng vào Nam, Nguyễn Hữu Chỉnh thông đồng với Nguyễn Duệ chiếm đất Nghệ An, sửa lũy Hoành Sơn, lấy Linh Giang (tức sông Gianh) làm giới hạn với Thuận Hóa. Tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm (con rể Nguyễn Nhạc) hay được, bèn gửi thư cáo biến với Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Vì vậy ý định của Hữu Chỉnh không thành. Từ khi đó, Văn Nhậm là người được cử ra Nghệ An để tăng cường lực lượng của Tây Sơn.

Nguyễn Hữu Chỉnh lại sai Trần Công Xán vào Nam đòi Tây Sơn đất Nghệ An do Nguyễn Văn Duệ, Vũ Văn Dũng đang trấn thủ. Vì thế, Nguyễn Huệ cử Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân mang quân ra Nghệ An, hợp sức cùng Vũ Văn Nhậm tiến ra Bắc đánh Nguyễn Hữu Chỉnh.

Cuối năm 1787, quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy tiến ra bắc. Hữu Chỉnh có phần chủ quan, bị Vũ Văn Nhậm đánh bại nhanh chóng. Tháng 11, Vũ Văn Nhậm đánh ra Thanh Hóa. Nguyễn Hữu Chỉnh vẫn sợ Vũ Văn Nhậm, và vì vợ con ông còn ở lại bên Tây Sơn, nên muốn liệu chiều để đi đến chỗ nghị hòa, nhưng còn do dự, chưa quyết định.

Ông mang 3 vạn quân đi chống cự ở sông Thanh Quyết, lại sai Nguyễn Hữu Du đem hơn 50 chiếc chiến thuyền chở hết các chiến cụ như đại pháo và hỏa khí đỗ ở cửa sông đối diện với quân Tây Sơn một con sông. Hữu Du không hề lo phòng bị. Ban đêm, quân Tây Sơn, ngầm bơi sang, dùng thừng chão dài buộc thuyền của Hữu Du kéo qua bờ phía nam. Quân Bắc Hà sợ hãi chạy trốn. Bao nhiêu đại pháo trong thuyền đều lọt vào tay quân Tây Sơn.

Quân Bắc Hà thua chạy. Nguyễn Hữu Chỉnh nửa đêm trốn từ Thanh Quyết về Thăng Long, thu gom được vài ngàn quân, hộ tống Lê Chiêu Thống chạy sang Kinh Bắc. Nhưng trấn thủ Nguyễn Cảnh Thước hàng Tây Sơn, không đón rước vua Lê nên ông phải mang Chiêu Thống qua đò sông Đáy chạy đi huyện Yên Dũng (Bắc Giang).

Khi Chiêu Thống và Hữu Chỉnh đến Mục Sơn thì quân Tây Sơn đuổi kịp. Bộ tướng của Vũ Văn Nhậm là Nguyễn Văn Hòa chia quân đánh mặt trước, rồi bí mật điều một cánh quân vòng phía sau núi đánh úp. Quân Hữu Chỉnh rối loạn, tự tan vỡ. Hữu Chỉnh thua chạy, vì ngựa què nên bị quân Tây Sơn bắt được.

Nguyễn Văn Hòa đưa Nguyễn Hữu Chỉnh về Thăng Long. Vũ Văn Nhậm kể tội ông là bất trung rồi sai xé xác ông ở cửa thành.

"Loạn thế xuất anh hùng", thời đại loạn lạc đã sản sinh Nguyễn Hữu Chỉnh, và đến lượt mình, Nguyễn Hữu Chỉnh cũng đã kịp để lại dấu ấn đậm trên gương mặt thời đại.

Mô hình nhân cách mà Nguyễn Hữu Chỉnh tự thể hiện, tự bộc lộ bằng chính cuộc đời mình, đó là kiểu con người vượt thoát ra ngoài sự ràng buộc của những tiêu chí thông thường, con người hành động với khát vọng tìm kiếm mọi con đường giải phóng năng lực và tham vọng của mình - con người tự do.

Chung cục không may mắn của cánh chim bằng giữa trời loạn này không có nghĩa là sự lựa chọn ấy sai lầm, mà chỉ có nghĩa là tầm cỡ tài năng ấy chưa đủ cho một sự lựa chọn như vậy mà thôi.

Tác phẩm

Ông là tác giả tập thơ Nôm Cung Oán Thi, mấy bài phú Nôm như Quách Tử Nghi Phú, Trương Lưu Hầu Phú và tập thơ Ngôn Ẩn Thi Tập bằng chữ Hán.
 

Trương Văn Lĩnh

 

Trương Vân Lĩnh tên khai sinh là Trương Văn Thanh, sinh năm 1902 tại làng Tuỵ Anh, tổng Vân Trình (nay xã Nghi Phương), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tuỵ Anh là một làng Thiên chúa giáo toàn tòng thuộc họ công giáo Mỹ Yên, nằm cạnh Xã Đoài, trung tâm Thiên chúa giáo của 3 tỉnh Nghệ An -Hà Tĩnh và Quảng Bình. Tại Xã Đoài có Toà giám mục địa phận có hệ thống trường dòng, trường Tiểu và Đại chủng viện.

Trương Vân Lĩnh lên 13 tuổi đã được cha mẹ xin cho vào học trường Tiểu chủng viện Xã Đoài. Sau 3 năm học tại trường, anh về nhà xin cha mẹ cho đi học chữ Hán tại thầy đồ ở làng Hữu Biệt (huyện Nam Đàn), quê hương của chí sỹ yêu nước Phan Bội Châu.. Thời gian này thơ văn Phan Bội Châu từ nước ngoài chuyển về đang được bí mật lưu truyền trong các sỹ phu. Những vần thơ cháy bỏng căm thù và sục sôi tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu thông qua các thầy giáo đã đến với anh và mang đến cho anh niềm xúc động. Anh tìm đọc các văn thơ yêu nước. Năm 1923, anh nghỉ học về quê xây dựng gia đình theo yêu cầu của cha mẹ.

  Ngày 5/2/1924, anh cùng hai người em trong họ bí mật gia nhập đoàn thanh niên Nghệ An xuất dương sang Xiêm dưới sự dẫn đường của Vương Thúc Oánh (con rể cụ Phan Bội Châu). Đến Phi Chịt, các anh được nhận vào Trại Cày của Đặng Thúc Hứa. Các anh vừa sản xuất nông nghiệp vừa luyện tập võ nghệ để chờ thời cơ sang Trung Quốc. Tháng 2/1925 Trương Vân Lĩnh được Đặng Thúc Hứa giới thiệu sang Quảng Châu (Trung Quốc) học tập. Sang Trung Quốc anh được gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc và được kếp nạp vào nhóm bí mật để làm nòng cốt cho việc thành lập tổ chức “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội”(VNTNCMĐCH). Dưới sự hướng dẫn của Nguyến Ái Quốc, Trương Vân Lĩnh tham gia vào Ban lãnh đạo Tổng bộ VNTNCMĐCH và tích cực đóng góp vào việc xuất bản báo “Thanh niên”, tổ chức các lớp huấn luyện chính trị cho số thanh niên yêu nước từ trong nước sang.
Năm 1926, Trương Vân Lĩnh gia nhập Đảng cộng sản Trung Quốc. Anh là người Việt Nam đầu tiên được cử đi tham dự lớp huấn luyện “Nông dân vận động” ở Quảng Châu và lớp huấn luyện quân sự cấp tốc tại Quế Lâm do Đảng cộng sản Trung Quốc tổ chức. Cuối năm 1926, anh được Đảng cộng sản Trung Quốc cử vào học trường Võ bị Hoàng Phố. Tốt nghiệp trường Võ bị, anh được cử chỉ huy một đơn vị quân đội Quốc dân đảng.

Tháng 4/1927, Tưởng Giới Thạch đã phản bội lại đường lối của Tôn Trung Sơn, thẳng tay đàn áp Đảng cộng sản. Những cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong VNTNCMĐCH liên quan đến Đảng cộng sản Trung Quốc như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn ...đều bị bọn chúng bắt giam. Trương Vân Lĩnh đã báo cho đồng chí Nguyễn Ái Quốc kịp rời Trung Quốc trước khi bọn quân phiệt Tưởng Giới Thạch đến bắt Người. Đồng thời với danh nghĩa VNTNCMĐCH, đồngchí viết thư cho Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Hoa yêu cầu trả tự do cho các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn...

Sau cuộc khởi nghĩa Quảng Châu (12/12/1927) thất bại, Trương Vân Lĩnh lại xin vào học trường sỹ quan của Chính phủ Quốc dân đảng Trung Hoa để tiếp tục nhiệm vụ cách mạng. Mãn khoá huấn luyện, Trương Vân Lĩnh được phong hàm quan ba và trực tiếp chỉ huy một đơn vị trong sư đoàn của tướng Trương Phát Khuê ở Nam Kinh. Đồng chí đã góp phần phá tan nhiều cuộc càn quét của chúng vào “khu du kích đỏ”, giải thoát cho nhiều cán bộ đảng viên của Đảng bạn.
Vào giữa năm 1929, các tổ chức cộng sản ở Việt Nam lần lượt ra đời. Mâu thuẫn giữa các tổ chức cộng sản và nội bộ VNTNCMĐCH ngày càng gay gắt. Nóng lòng trước tình trạng ấy, đồng chí Trương Vân Lĩnh xin từ chức trong quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa, bí mật sang Xiêm để báo cáo với đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Nhưng khi anh sang đến nơi thì Nguyễn Ái Quốc đã về Hương Cảng để triệu tập đại biểu các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

Nhận được thư của Nguyễn Ái Quốc, Trương VânLĩnh trở lại Hương Cảng và được Người giao nhiệm vụ dịch tài liệu gửi về nước. Ngoài ra đồng chí còn tổ chức xây dựng cơ sở đảng và công hội đỏ trong công nhân người Việt Nam làm việc dưới tàu thuỷ chạy tuyến đường Hương Cảng – Sài Gòn - Hải Phòng. Tháng 2/1930, anh bị cảnh sát Anh bắt tại Hương Cảng và chúng trao cho chính quyền Quảng châu. Nhờ quen biết biết với những người cầm quyền tại đây nên anh được trả tự do. Anh định tìm gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc để nhận nhiệm vụ nhưng Người vừa bị đế quốc Anh ở Hương Cảng bắt giam. Trương Vân Lĩnh đã cùng Hồ Tùng Mậu gặp luật sư Lô giơ bai( người Anh) đứng ra bào chữa cho Nguyễn Ái Quốc.

  Ngày 5/1/1932, Trương Vân Lĩnh đến Thượng Hải lên tàu thuỷ đi Nhật nhận tiền giúp đỡ hoạt động của Cường Để thì bị cảnh sát Anh bắt giam. Theo yêu cầu của thực dân Pháp, chính quyền Thượng Hải giao Trương Vân Lĩnh cho bọn Pháp ở Đông Dương. Bọn chúng đưa anh về giam ở nhà tù Hoả Lò (Hà Nội). Ngày 15/5/1932, toà án Nam triều tỉnh Nghệ An kết án Trương Vân Lĩnh tù khổ sai chung thân đày đi Lao Bảo. Sau đó chúng chuyển đồng chí Trương Vân Lĩnh lên nhà tù Ban Mê Thuột. Tháng 3/1941, do tình hình trong nước và trên thế giới biến động, thực dân Pháp chuyển một số tù chính trị tại Ban Mê Thuột đi trại Đắc Min, một trại giam ở vùng hẻo lánh cách Ban Mê Thuột 50 km.

Ngày 4/12/1942, Trương Vân Lĩnh cùng đồng chí Chu Huệ, Trần Hữu Doánh và Nguyễn Tạo vượt ngục trở về hoạt động cách mạng. Sau khi bắt được liên lạc, đồng chí Trương Vân Lĩnh cùng Nguyễn Tạo được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ tổ chức trường quân sự ở tỉnh Thái Nguyên để đào tạo cán bộ quân sự cho Xứ uỷ Bắc Kỳ. Ngày 18/9/1944, đồng chí Trương Văn Lĩnh bị thực dân Pháp bắt tại bến đò Hà Châu(huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên). Sau đó chúng đưa đồng chí về giam tại nhà tù Hoả Lò (Hà Nội).
Sau cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí Trương Vân Lĩnh được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ phụ trách trường Quân chính ở Hà Nội và đồng chí mất tại đây ngày 23/11/1945.

 

Hoài Thanh

 
  Hoài Thanh (1909 - 1982) có tên khai sinh là Nguyễn Đức Nguyên (ngoài ra ông còn sử dụng các bút danh khác như Văn Thiên, Le Nhà Quê) quê xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc-Nghệ An, là một nhà phê bình văn học uyên bác và tinh tế, đã đóng góp công lớn về mặt phê bình, lý luận để khẳng định Thơ mới trong văn học Việt Nam thế kỉ 20. Tác phẩm bất hủ Thi nhân Việt Nam do ông và em trai (Nguyễn Đức Phiên - bút danh Hoài Chân) viết đã đưa tác giả lên vị trí cao, xứng tầm một nhà phê bình lớn của nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1909 trong một gia đình nhà nho nghèo có tham gia phong trào Đông Du chống Pháp của Phan Bội Châu. Bắt đầu học chữ Hán, chữ Quốc ngữ, hồi nhỏ ông là học sinh của trường Quốc học Vinh; rồi theo học trường Pháp Việt đến bậc trung học; tham gia phong trào yêu nước của học sinh của Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu. Trước 1945, ông tham gia viết văn, làm báo, dạy học và được coi là người đứng đầu trường phái phê bình văn học Nghệ thuật vị nghệ thuật. Năm 1927, Ông gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng. Năm 1930 đang học ở trường Bưởi (Hà Nội) thì bị bắt, bị kết án treo, bị trục xuất khỏi Bắc Kỳ và giải về quê. Năm 1931 vào Huế, làm công cho một nhà in, đi dạy học, đồng thời viết văn, viết báo.

Tham gia Tổng khởi nghĩa của Việt Minh cướp chính quyền ở Huế tháng 8 năm 1945. Sau 1945 ông lần lượt giữ những chức vụ: Chủ tịch Hội văn hóa cứu quốc, Huế (tháng 9 năm 1945); cán bộ giảng dạy tại Đại học Hà Nội (từ 1945 đến 1946); công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam (từ 1947 đến 1948); ủy viên Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam(1950); Trưởng tiểu ban Văn nghệ Ban Tuyên huấn Trung ương (1950-1956); Vụ trưởng Vụ nghệ thuật và giảng dạy tại Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội (1958). Trong khoảng 10 năm 1958-1968 ông trở thành đại biểu Quốc hội khóa 2, làm Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; tham gia Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 1 và 2. Từ 1959-1969 ông giữ chức Phó viện trưởng Viện Văn học Việt Nam kiêm Thư ký tòa soạn Tạp chí Nghiên cứu văn học của Viện. Từ 1969 đến 1975 ông giữ chức Chủ nhiệm tuần báo Văn nghệ. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hoài Thanh mất ngày 14 tháng 3 năm 1982 tại Hà Nội.


Nguyễn Duy Trinh


 

Nguyễn Duy Trinh sinh ngày 15 tháng 7 năm 1910 trong một gia đình nông dân tại xã Nghi Thọ (nay là xã Phúc Thọ), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tham gia cách mạng từ năm 1928 - 1985. 

Quá trình hoạt động:

- Gia nhập Đảng Tân Việt cách mạng (tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương) (1928);

- Gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, làm Bí thư Chi bộ rồi Bí thư Huyện uỷ Nghi Lộc trong cao trào Xô Viết Nghệ-Tĩnh (1930-1931);

- Tham gia tổ chức khởi nghĩa ở Vinh và Huế (1945);

- Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Xứ uỷ Trung bộ Đảng Cộng sản Đông Dương, Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính Trung bộ (08/1945);

- Bí thư liên khu uỷ khu 5, kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính miền Nam Trung bộ (từ 1949);

- Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (được bầu tại Đại hội Đảng lần thứ II - 03/1951);

- Chánh văn phòng Trung ương Đảng (cuối năm 1954);

- Uỷ viên Ban Bí thư Trung ương Đảng (08/1955);

- Uỷ viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng (1956);

- Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (1958);

- Uỷ viên Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ( được bầu lại tại Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III - 09/1960), Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước (1960) sau đó kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước (1963-1964).

- Đại biểu Quốc hội từ khoá I (1946) đến khoá VII (1987).

Các chức vụ sau khi làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao:

- Uỷ viên Trung ương Đảng, thường trực Ban nghiên cứu chiến lược kinh tế-xã hội của Trung ương Đảng và Chính phủ (1982);

Những đóng góp chính với ngành Ngoại giao

Là một trong những học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh là nhà ngoại giao uyên thâm mà tên tuổi gắn liền với nhiều hoạt động ngoại giao sôi nổi nhưng cũng đầy cam go và quyết liệt của Đảng và Nhà nước ta trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh đóng góp tích cực vào việc hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế trong hoàn cảnh có sự bất đồng sâu sắc trong phe xã hội chủ nghĩa. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, ngoại giao đã trở thành một mặt trận và phối hợp chặt chẽ với mặt trận chính trị, quân sự; vừa đánh vừa đàm; phối hợp nhịp nhàng đấu tranh ngoại giao của hai miền Nam-Bắc, và nghệ thuật đàm phán của ngoại giao Việt Nam mà đỉnh cao là việc ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973.

Sau năm 1975, trước yêu cầu mới của đất nước, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh đã sớm nêu ra nhiệm vụ ngoại giao phục vụ khôi phục và phát triển kinh tế. Về xây dựng Ngành, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh đã đề xuất việc xây dựng quy hoạch đào tạo cán bộ cấp Vụ trẻ (1978) và qua hoạt động thực tiễn, đã đào tạo nhiều đội ngũ cán bộ ngoại giao giỏi cho đất nước.

Ngày qua đời: 20/04/1985.

Được tặng thưởng:

- Huân chương Sao vàng;

- Huân chương Kháng chiến hạng Nhất;

- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất;

- Và nhiều Huân chương, Huy chương cao quí khác.
 

Hoàng Đan (1928-2003)

 
Thiếu tướng Hoàng Đan (1928-2003) là một vị tướng tài năng của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã tham gia chỉ huy những trận đánh nổi tiếng từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ. Ông đồng thời cũng là một nhà lý luận quân sự xuất sắc.
Hoàng Đan sinh ở xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong một gia đình có truyền thống lâu đời, nhiều thế hệ đỗ đạt ra làm quan, làm thầy thuốc. Theo gia phả họ Hoàng ông là hậu duệ thứ 21 của một danh tướng đời nhà Trần là Hoàng Tá Thốn, hiệu Sát Hải đại Vương, hiện ở huyện Yên Thành vẫn còn đền thờ. Thân sinh của ông là Hoàng Văn Hệ; thân mẫu là Đặng thị Ngung, sinh được 7 người con, hai trai năm gái. Ông là con thứ tư trong gia đình, cũng là người con duy nhất trong gia đình trước cách mạng được theo học từ trường xã đến tỉnh, trước khi Mỹ ném bom nhà máy xe lửa Trường Thi tháng 11 năm 1943 buộc ông phải nghỉ học ở năm thứ 3.
Cả gia đình họ Hoàng (họ ông nội) và họ Trần (họ bà nội) ông đều có nhiều người tham gia cách mạng. Chú họ ông, Hoàng văn Tâm, bí thư đầu tiên huyện uỷ Nghi Lộc bị địch bắn chết năm 1931; chú ruột, Hoàng Văn Mỹ, bị bắt năm 1930 đày lên Kon Tum đến khi phong trào bình dân lên cầm quyền ở Pháp mới được tha về.
Tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp. Qua sự giới thiệu của chú và anh (anh trai của ông bị tù năm 1941, sau khôi phục làm chính quyền địa phương và vào bộ đội), ông tham gia vào mặt trận Việt Minh, theo truyền thống của gia đình. Tại cuộc họp cán bộ Việt Minh tỉnh Nghi Lộc để bầu ban chấp hành lâm thời mặt trận Việt Minh huyện, ông và Hoàng Niệm (sau là tư lệnh bộ đội thông tin) tuy là thành viên mới nhưng cũng được bầu làm uỷ viên uỷ ban chấp hành huyện. Tháng 6 cùng năm đó, ông được cử về tổng Vân Trình phụ trách tổ Việt Minh của tổng và việc tổ chức các tổ Việt Minh ở xã. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra tại huyện, một cuộc mít tinh lớn đã được nổ ra để ra mắt chính quyền cách mạng, ông dẫn đầu đoàn quần chúng tổng Vân Trình về dự mít tinh. Đến tháng 11, ông được triệu tập vào ban tuyên truyền tỉnh bộ Việt Minh bổ sung vào đoàn tuyên truyền lưu động. Đầu năm 1946, ông được cử đi học trường quân sự quân khu mới mở ở Nhượng Bạn, Hà Tĩnh và sau khi ra trường, ông về hoạt động ở tiểu đoàn tiếp phòng quan Đông Hà (Quảng Trị) thuộc trung đoàn tiếp phòng quân đóng ở Bình-Trị-Thiên lúc bấy giờ.
Tháng 10 năm 1946, dưới sự giới thiệu của Hoàng La và Trần Văn Quang, ông đã được công nhận chính thức là một thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Công việc của ông lúc này là liên chi ủy viên tiểu đoàn - bí thư chi bộ, đồng thời cũng là chính trị viên của đại đội 2 - nơi ông nhận công tác.
Những hoạt động cách mạng và kháng chiến chống Pháp
Ở Quảng Trị, nơi ông đóng quân, những thông tin về kháng chiến toàn quốc được biết rất chậm, và cho đến đầu năm 1947, Quảng Trị vẫn chưa bước vào chiến đấu. Đến giữa năm 1947, địch bắt đầu từ Lào đánh theo đường số 9 tiến về Đông Hà và một cánh quân từ Huế theo đường số một tiến đánh Quảng Trị.lúc này bộ tổng tư lệnh năm 1948 có chủ trương đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung và trên thực tế ở Quảng Trị đã có đại đội độc lập, được xây dựng từ trước. Trong khoảng thời gian địch vây đánh Đông Hà này, ông đã tham gia và chiến đấu không ít trận đánh như trận đánh địch từ Cam Lộ về Đông Hà, trận phục kích chống càn ở nam Vĩnh Linh.
Các chức vụ ông đã lần lượt đảm nhiệm từ tháng 4 năm 1946 đến tháng 10 năm 1953: trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng thuộc trung đoàn 57, sư đoàn 304. Tháng 11 năm 1953 là trung đoàn phó trung đoàn 57, sư đoàn 304.
Các trận đánh và chiến dịch ông đã từng trực tiếp tham gia hoặc chỉ huy:
  • Trận đánh địch từ Cam Lộ tiến về Đông Hà
  • Trận ngăn chặn địch ở Gio Linh và đánh quận lỵ Gio Linh
  • Trận phục kích tàu địch trên sông Đông Hà
  • Trận phục kích chống càn ở nam Vĩnh Linh
  • Chiến dịch Hòa Bình
  • Chiến dịch thu đông
  • Chiến dịch Thượng Lào
  • Chiến dịch Điện Biên Phủ
Sau Điện Biên Phủ - Chiến tranh Việt Nam
Sau khi kết thúc chiến tranh, ông được chỉ định làm trưởng ban tác chiến sư đoàn 304. Đến năm 1955, ông được điều về Trường Trung cao Quân sự (sau này là học viện Quân sự). Ông làm giáo viên tại đó đến năm 1959 thì chuyển sang làm trưởng phòng khoa học quân sự. Năm 1960 ông được Bộ cử đi học lớp Trung cấp tại Liên Xô, tức học viện quân sự Frunze cùng với 11 đồng chí khác. Sau khi tốt nghiệp về nước được giao chủ nhiệm khoa Bộ binh hệ Giáo dục quân sự học viện Quân chính
Tháng 8 - 1965, ông giữ chức Phó Tư lệnh sư đoàn 304B đến năm 1970 được bổ nhiệm làm Tư lệnh sư đoàn 304B
Đến năm 1968, ông cùng sư đoàn 304 tham gia chiến trường Khe Sanh
Năm 1970, ông tham gia chỉ huy chiến đấu tại chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào
Năm 1972 ông chỉ huy sư đoàn 304 chiến đấu tại chiến trường Trị-Thiên
Tháng 11/1973, ông giữ chức Phó tư lệnh, tham mưu trưởng Quân đoàn I sau được bổ nhiệm làm phó tư lệnh Quân đoàn Trị Thiên (tức Quân đoàn II)
Tháng 3 - 1975, ông và quân đoàn II tham gia chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng và sau đó là chiến dịch giải phóng các tỉnh cực Nam Trung Bộ và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Từ năm 1975 trở đi
 Năm 1976, sau khi đất nước thống nhất, ông được điều về làm phó giám đốc Học viện Quân sự cao cấp sau là Học viện Quốc phòng
Năm 1978, ông tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc tại biên giới Tây Nam giáp với Campuchia
Năm 1979, ông tham gia chiến tranh biên giới phía Bắc và được bổ nhiệm lên Tư lệnh Quân đoàn 5 (khi đó là Quân đoàn 14) kiêm phó tư lệnh Quân khu 1.
Tháng 2 - 1981 làm Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng quân khu 1
Tháng 7-1983 ông về làm phó cục trưởng cục khoa học quân sự Bộ Tổng tham mưu
Tháng 6-1990 được bổ nhiệm làm cục trưởng cục khoa học quân sự Bộ Tổng tham mưu nay là cục khoa học công nghệ và môi trường Bộ Quốc Phòng
Từ tháng 6 - 1995, ông được Đảng và Quân đội cho nghỉ hưu.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ông đã nhận được nhiều danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước:
  • Hai huân chương Quân công hạng nhất, hạng nhì
  • Hai huân chương chiến công hạng nhất
  • Huân chương chiến thắng hạng Nhất
  • Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất
  • Ba huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng nhất, nhì, ba
  • Ba huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba
  • Huân chương hữu nghị Việt Xô
  • Huy chương Quân kỳ quyết thắng
 Theo WWW.nghiloc.gov.vn

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin mới gửi

Đăng ký thành viên

Thăm dò ý kiến

Theo bạn website này:

Giao diện đẹp, bố trí hợp lý

Mọi thứ tạm ổn

Cần bổ sung chức năng diễn đàn

Cũng bình thường

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 42

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 41


Hôm nayHôm nay : 11328

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 232456

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4266112