Doanh nghiệp giới thiệu

Tổng Công ty 36
Công ty Nano
Áp lực Đông Anh
An Phát
Công ty Sigma Việt Nam
Công ty Cổ phần thiết bị giáo dục và Khoa học kỹ thuật Ngân Hà

Liên kết website

Nghi Lộc 1
Khóa 70-73
Du lịch Cửa Lò
Vũ Đăng Hiến
Nguyên Hùng
Lê An Tuyên

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức - Sự kiện

Đăng bài viết

40 năm trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa

Thứ năm - 09/01/2014 13:31


Năm 2014, vừa tròn 40 năm (1974), Trung Quốc đưa quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam lúc đó thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn. Câu hỏi được nhiều người quan tâm là tại sao Trung Quốc lại ngang nhiên dùng sức mạnh quân sự đánh chiếm Hàng Sa mà miền Bắc và một số nước khác không có phản ứng gì đáng kể. Thật khó trả lời câu hỏi này, nhưng không phải là không trả lời được. Sự thật lịch sử phụ thuộc vào từng góc nhìn. Nhân 40 năm, nhìn lại sự kiện này tôi muốn làm rõ thêm một số ít trong nhiều nguyên nhân để bạn đọc cùng tham khảo.
 

Tham vọng bá chủ biển Đông của Trung Quốc đã hình thành từ lâu
Bành trướng, mở rộng vùng lãnh thổ xuống phía Nam luôn là tham vọng có từ lâu đời của người Trung Quốc. Năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời. Lúc đó, Trung quốc chỉ kiểm soát rất ít trong số 4 quần đảo, bãi ngầm tại biển Đông. Ngay cả một phần lãnh thổ của mình là Đài Loan, Trung Quốc cũng không kiểm soát nổi. Chính vì vậy họ phải đối đầu với rất nhiều thách thức cả trong và ngoài nước. Đài Loan dưới quyền kiểm soát của Quốc Dân Đảng với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, vùng biển Hoa Đông, Nhật Bản tỏ ra chiếm ưu thế. Chính vì vậy mà giấc mở nhìn xuống phía Nam xem ra có nhiều hy vọng, vì các nước ở phía Nam yếu hơn.
Quyết tâm theo đuổi giấc mộng tiến về phía Nam,  năm 1951, Trung Quốc chính thức đưa ra yêu sách về chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng bị nhiều quốc gia khác phản đối.
Ví trí chiến lược của Quần đảo Hoàng Sa
Nằm trên ví trí chiến lược ở Biển Đông, Hoàng Sa, gồm hai nhóm đảo chính: nhóm Nguyệt Thiềm (Crescen) nằm ở phía Tây Nam quần đảo, nhóm An Vĩnh (Amphitrite) nằm ở phía Đông Bắc. Năm 1956 quân đội Trung Quốc đã chiếm đảo Phú Lâm (Woody) thuộc nhóm An Vĩnh (Amphitrite). Trước đó, quân đội Pháp đã chiếm đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc nhóm Nguyệt Thiềm (Crescen). Năm 1956, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã thay chân Pháp kiểm soát đảo này.
Khi nhìn thấy ví trí chiến lược về quân sự, kinh tế, hàng hải của vùng biển này, Trung Quốc đã đặt ra quyết tâm phải kiểm soát được tất cả các đảo thuộc Hoàng Sa. Năm 1959, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã tăng cường kiểm soát chặt chẽ các đảo này, buộc các ngư dân Trung Quốc phải tránh xa  khu vực nhóm đảo Nguyệt Thiềm (Crescen), điều này làm cho Trung Quốc cảm thấy khó chịu mặc dù Việt Nam Cộng hòa không có hành động đe dọa nào đối với Trung Quốc tại nhóm đảo An Vĩnh.
 
Năm 1970, Philippines hoàn thành việc khảo sát địa chấn tại các vùng nước xung quanh Trường Sa, và năm 1971 bắt đầu tiến hành khoan thăm dò dầu khí tại đây. Trong khi đó, Việt Nam Cộng hòa cũng bắt đầu việc khai thác nguồn dầu khí ngoài khơi, tháng 7/1973 Sài Gòn đã ký kết 8 hợp đồng khoan thăm dò tại những nơi được cho là có nhiều dầu mỏ trên biển Đông. Tháng 1 và tháng 3/1973, Việt Nam Cộng hòa cũng đã cho tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực xung quanh nhóm đảo Nguyệt Thiềm. Đồng thời lúc này vào tháng 12/1973, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng công bố cho thấy triển vọng của các giếng dầu ở ngoài khơi Vịnh bắc Bộ, phía bắc của quần đảo Hoàng Sa.
Bắt đầu từ đây, những lợi ích kinh tế đã làm nóng lên tham vọng của nhiều quốc gia trong khu vực.  Philippines đã chiếm 5 đảo và đá tại Trường Sa trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến năm 1971.
Tháng 9/1973, Việt Nam Cộng hòa tuyên bố sáp nhập quần đảo Trường Sa vào địa bàn tỉnh Phước Tuy. Các hành động của các quốc gia này chỉ trong chưa đầy 3 năm đã đẩy Trung Quốc vào thế bất lợi trong tranh chấp này. Để đáp lại những hành động đó, Trung Quốc quyết định mở rộng sự hiện diện của mình trên những hòn đảo ngoài khơi biển Đông, nơi có ít sự trợ giúp của các lực lượng hải quân của các quốc gia khác.
Năm 1972, sau cuộc gặp lịch sử giữa Mao Trạch Đông với Nixon, và sự kiện Mỹ rút ra khỏi Việt Nam sau Hiệp định Paris đầu năm 1973, Bắc Kinh đã thấy trước một khả năng mới: Họ có thể loại trừ khả năng can thiệp của Hải quân Mỹ nếu cưỡng chiếm các hòn đảo thuộc do Việt Nam Cộng hòa quản lý.
Thời cơ thực hiện giấc mơ bá chủ biển Đông đã điểm.
Sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, chế độ Sài gòn suy yếu về kinh tế, quân sự và ngoại giao, khả năng can thiệt của Mỹ trên biển Đông không còn. Nắm bắt thời cơ, Trung Quốc quyết định sử dụng lực lượng ngư dân để gia tăng sự hiện diện trên vùng biển nhóm Nguyệt Thiềm từ năm 1973. Ngày 9/1/1974, các ngư dân Trung Quốc từ đảo Hữu Nhật áp sát tới gần đảo Hoàng Sa - nơi mà Việt Nam Cộng hòa đang đóng quân trên đó. Ngày 11/1, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc công khai thách thức Tuyên bố tháng 9/1973 của Việt Nam Cộng hòa. Giữa tháng 1/1974, các tình huống đối đầu trở nên căng thẳng hơn. Tiếp theo các tuyên bố của Bắc Kinh, Sài Gòn gửi thêm một số tàu chiến tới khu vực nhóm đảo Nguyệt Thiềm, trục xuất các ngư dân Trung Quốc ra khỏi khu vực này. Chính điều này là cái cớ, châm ngòi cho diễn biến quân sự.
Điều gì muốn xảy ra ắt sẽ đến. Ngày 19 và 20/1/1974, Trung Quốc đã dùng sức mạnh quân sự, tấn công đánh chiếm toàn toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Lực lượng tham chiến của hai bên gồm có:
Phía Việt Nam Cộng hòa có 4 chiến hạm là Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10), Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5), Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), 1 đại đội hải kích thuộc Hải quân Việt Nam Cộng hòa, một số biệt hải (biệt kích hải quân) và 1 trung đội địa phương quân đang trú phòng tại đảo Hoàng Sa.
Phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có 4 chiếm hạm trực tiếp tham gia trận chiến là Liệp tiềm đĩnh (tàu chống ngầm) số 274, Liệp tiềm đĩnh số 271, Tảo lôi hạm số 389, Tảo lôi hạm số 396, 2 ngư thuyền ngụy trang số 402 và số 407. Ngoài ra, phía Trung Quốc còn có lực lượng thuộc Trung đoàn 10 Hải quân lục chiến, trinh sát (không rõ số lượng). Sau khi trận chiến đã kết thúc, thì Liệp tiềm đĩnh số 282, Liệp tiềm đĩnh số 281 mới đến tăng viện.
Đôi lời thay kết luận
Đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là phần mở đầu cho giấc mộng bành trướng xuống phía Nam của Trung Quốc. Sau sự kiện Hoàng Sa (1974), Trung quốc lại tái diễn màn kịch dùng sức mạnh quân sự đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa (1988), và gần đây là việc thông báo vùng Quản lý bay; Đường lưỡi bò... Tất cả những diễn biến đó đều nằm trong âm mưu chiến lược độc chiếm biển Đông của Trung Quốc. Mặc dù không được quốc tế công nhận và phản đối cực liệt, nhưng Trung Quốc vẫn ngang nhiên tiến hành khảo sát, xây dựng nhiều công trình quân sự, kinh tế, trên vùng biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, điều này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ Việt Nam và công ước quốc tế về luật biển 1982. Vấn đề đấu tranh đòi lại chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa vẫn tiếp diễn. Hoàng Sa đến nay vẫn  là một vùng lãnh thổ tranh chấp. Và việc giải quyết tranh chấp như thế nào phụ thuộc vào thiện chí của đôi bên trên nguyên tắc tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế về tranh chấp lãnh thổ.
                                                                                                                                                                                                   PGS, TS Vũ Đăng Hiến


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin mới gửi

Đăng ký thành viên

Thăm dò ý kiến

Theo bạn website này:

Giao diện đẹp, bố trí hợp lý

Mọi thứ tạm ổn

Cần bổ sung chức năng diễn đàn

Cũng bình thường

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 47


Hôm nayHôm nay : 7743

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 344926

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4767246