Doanh nghiệp giới thiệu

Tổng Công ty 36
Công ty Nano
Áp lực Đông Anh
An Phát
Công ty Sigma Việt Nam
Công ty Cổ phần thiết bị giáo dục và Khoa học kỹ thuật Ngân Hà

Liên kết website

Nghi Lộc 1
Khóa 70-73
Du lịch Cửa Lò
Vũ Đăng Hiến
Nguyên Hùng
Lê An Tuyên

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức - Sự kiện

Đăng bài viết

Bác Hồ với thương binh - liệt sỹ

Thứ bảy - 22/06/2013 05:55


Hiện nay, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang tiếp tục triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng trong và cao đẹp trên nhiều mặt, trong đó tình cảm, sự quan tâm sâu sắc của Người đối với thương binh, liệt sỹ là một trong những tấm gương đẹp nhất, xứng đáng để muôn đời cháu con Việt Nam học tập.

Trở lại vớí thời gian và lịch sử, lúc đương thời dù bận trăm công ngàn việc, nhưng Người vẫn giành thời gian đến các trại điều dưỡng thương - bệnh bệnh và các gia đình liệt sỹ để động viên thăm hỏi. Trong tâm nguyện của Người luôn nghĩ rằng: máu đào của thương binh, liệt sỹ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước nở hoa độc lập, kết trái tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công lao của thương binh, liệt sỹ. Đạo lý và tình cảm của Người đối với thương binh, liệt sỹ cũng chính là đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta. Đạo đức, tư tưởng và tình cảm ấy, mãi mãi trường tồn cùng lịch sử.

Nhớ lại những năm tháng trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trong thư gửi Ban thường trực của Ban tổ chức “Ngày thương binh liệt sỹ toàn quốc 27/7/1947”, Người viết: “ Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc của đồng bào mà các đồng chí phải ốm, yếu…Vì vậy, Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy. Ngày 27/7 là một dịp để đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”. (1) Với cương vị là một Chủ tịch nước, giữa bao bộn bề công việc của những ngày đầu kháng chiến gian khổ nhưng Người vẫn thường xuyên theo dõi diễn biến của những trận chiến đấu trên chiến trường. Khi nghe tin có những chiến sỹ hy sinh, Người lại lặng đi trong giây lát. Thật xúc động, không cầm nổi nước mắt khi đọc lại lá thư Người gửi bác sỹ Vũ Đình Tụng, Giám đốc y tế Bắc Bộ ngày 7/1/1947. Thay mặt chính phủ kháng chiến Bác viết: “ Tôi được báo cáo rằng con trai của Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng: tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi, tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi mất một đoạn ruột…”(2)

Thật khó nói hết tình cảm, lòng ngưỡng mộ của Người đối với những liệt sỹ đã chiến đấu anh dũng và hy sinh cho Tổ quốc. Trong thư gửi các chiến sỹ Cảm tử quân Thủ đô ngày 27/1/1947, Bác viết: “ Các em là đội cảm tử, các em cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cho tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta qua mấy ngàn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó  đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan ĐÌnh Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em. Nay các em gan góc, tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời mai sau”. (3)

Sau ngày Thủ Đô kháng chiến, trở lại chiến khu Việt Bắc, khi nghe tin Đội lão du kích huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang lập chiến công phá đồn địch, một số cụ đã anh dũng hy sinh. Người thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước các lão du kích đã hy sinh vì nước và Người kêu gọi toàn dân noi gương các lão du kích Yên Dũng: “ Các cụ tuy tuổi đã già, tóc đã bạc, nhưng vẫn hăng hái giết giặc, hy sinh cho Tổ quốc…nêu cao gương oanh liệt. Toàn thể quân dân du kích cả nước phải noi theo gương anh dũng hy sinh ấy mà thi đua giết giặc, cướp cho thật nhiều súng. Giặc đi đến đâu cũng bị dân quân, du kích chặn đánh, phá hoại, quấy rối, tiêu diệt chúng từng tốp nhỏ đến tốp to. Như thế thì trường kháng chiến nhất định thành công”. (4)

Đối với Người, nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Mặc dù sống xa đồng bào Nam Bộ, nhưng Người vẫn thường nói: “Miền Nam luôn trong trái tm tôi”. Tình cảm của Người đối với đồng bào, chiến sỹ miền Nam là tình cảm đặc biệt, vượt qua cả không gian, thời gian. Trong thư gửi đồng bào và chiến sỹ Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ nhân kỷ niệm hai năm ngày Nam Bộ kháng chiến, 23/9/1947 Người viết: “ Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ và nhân dân cả nước nghiêng mình trước linh hồn các chiến sỹ và đồng bào đã hy sinh vì Tổ quốc. Tôi gửi lời an ủi những chiến sỹ và đồng bào hoặc bị thương, hoặc bị địch giam cầm, hoặc đang bị khổ sở nơi địch chiếm đóng. Tôi gửi lời thân ái khen ngợi toàn thể đồng bào và chiến sỹ đang hăng hái chiến đấu.” (5)

Tính nhân văn, trong tâm hồn của Bác đối với nhân dân, đối với thương bệnh binh không chỉ là tấm lòng của một vị lãnh tụ mà còn là tấm lòng của một người cha đối với cháu con trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Đối với thương binh và những người từ mặt trận trở về, Người căn dặn: “ Phải hoà mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân, phải tránh tâm lý công thần, coi thường lao động, coi thường kỷ luật. Chớ bi quan, chán nản, phải luôn cố gắng. Trước kia, anh em đã xung phong giết giặc, thì nay anh em phải tuỳ điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất, góp phần xây dựng đất nước”. (6) Đối với những người chịu trách nhiệm chăm sóc thương bệnh binh, Bác thường xuyên nhắc nhở, phải tận tuỵ với công việc. Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng, hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh. Để tạo điều kiện giúp đỡ thương binh tạo lập cuộc sống sau khi trở về địa phương, Bác căn dặn các cấp chính quyền cần tạo điều kiện tốt nhất để anh em thương binh mau chóng ổn định cuộc sống. Ngưòi chỉ ra cách thức và bước đi cho công việc: “ Mỗi xã trích một phần ruộng công, nếu không có ruộng công thì mượn ruộng của những đồng bào có hằng tâm, hằng sản, nếu không mượn được thì chính quyền, đoàn thể và đồng bào trong xã chung sức phát vỡ đất mới để giúp thương binh. Chính quyền, đoàn thể và đồng bào trong xã tổ chức cấy cày chăm sóc, gặt lúa giúp đỡ thương binh…”(7) Đối với những cán bộ cao cấp trong quân đội, những người trực tiếp chỉ huy, quản lý bộ đội và thực hiện chính sách hậu phương quân đội, Người căn dặn:  “ Phải cố gắng cùng các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể chấp hành thật tốt các chính sách đối với anh em thương bệnh binh và các gia đình có công với kháng chiến”. (8)
Đối với Bác từ tâm hồn, lối sống đến hành động  mẫu mực, nhân ái quỵet chặt làm một, bởi Bác sống như trời đất của ta, yêu từng ngọn cỏ mỗi cành hoa. Thật khó nói hết tấm lòng bao la của Bác đối với những người đã vì nước mà không tiếc máu xương của mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Những ngày lâm chung, nằm trên giường bệnh, Người vẫn theo dõi sát sao từng trận đánh trên chiến trường miền Nam, Người vẫn trăn trở, khổ đau khi nghe tin có thêm đồng bào, chiến sỹ hy sinh. Phút cuối cùng trước lúc vĩnh biệt chúng ta, Người vẫn không quên căn dặn Đảng ta phải đặc biệt quan tâm đến thương binh, gia đình có công với cách mạng bởi đó là đạo lý “ uống nước nhớ nguồn”, là mạch ngầm sức mạnh để làm nên chiến thắng.

Ghi nhớ lời dạy của Người, thương binh “tàn nhưng không phế”. Sau khi chiến tranh kết thúc, những người thương binh từ mặt trận trở về vẫn tiếp tục phát huy bản chất bộ đội Cụ Hồ, tiếp tục chiến đấu trên trận tuyến mới. Trong số những người ở mặt trận trở về, nhiều người đã trở thành những nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, cán bộ cao cấp của Đảng, hoặc giữ nhiều cương vị quan trọng trong bộ máy chính quyền Nhà nước. Nhiều người trở về địa phương đã trở thành những gương sáng về làm kinh tế giỏi và cũng đã có không ít người trở thành những Doanh nhân, những nhà doanh nghiệph giỏi đang đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế của đất nước. Họ đang phấn đấu cùng toàn Đảng, toàn dân phấn đấu thực hiện ước mơ cao đẹp của Người “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Nhân ngày thương binh liệt liệt sỹ 27/7, gắn với Cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, một lần nữa nhắc lại những việc Bác đã làm; những tình cảm Người đã thể hiện; những lời Bác đã nhắc nhở cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể đối với thương binh, liệt sỹ và những người có công với cách mạng, để chúng ta thấy rõ hơn trách nhiệm của mình trên từng cương vị công tác, để có hành động đúng, giữ trọn đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Ghi chú: 1. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1995, T4, tr 175.
2. Bản gốc lưu bút tích tại Viện bảo tàng Hồ Chí Minh.
3.  Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1995, Tr 35.
4. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1995, T5 tr423.
5. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1995, T5, tr 214.
6. Theo bút tích lưu tại Viện bảo tàng Hồ Chí Minh.
7. Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, Nxb sự thật, HN, 1960 T2, Tr 100.
8. Hồ Chí Minh về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb QĐND, HN, 1970, Tr397.

                                                                                                                      PGS Tiến sỹ, Vũ Đăng Hiến

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin mới gửi

Đăng ký thành viên

Thăm dò ý kiến

Theo bạn website này:

Giao diện đẹp, bố trí hợp lý

Mọi thứ tạm ổn

Cần bổ sung chức năng diễn đàn

Cũng bình thường

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 25

Máy chủ tìm kiếm : 11

Khách viếng thăm : 14


Hôm nayHôm nay : 10245

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 304028

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5830624