Doanh nghiệp giới thiệu

Tổng Công ty 36
Công ty Nano
Áp lực Đông Anh
An Phát
Công ty Sigma Việt Nam
Công ty Cổ phần thiết bị giáo dục và Khoa học kỹ thuật Ngân Hà

Liên kết website

Nghi Lộc 1
Khóa 70-73
Du lịch Cửa Lò
Vũ Đăng Hiến
Nguyên Hùng
Lê An Tuyên

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức - Sự kiện

Đăng bài viết

Lịch sử hình thành và phát triển trường cấp III Nghi Lộc 1

Chủ nhật - 22/07/2012 05:27


Lịch sử 50 năm xây dựng và phát triển của trường phổ thông cấp 3 Nghi Lộc – Trường THPT Nghi Lộc 1 là một bông hoa đẹp trong vườn hoa đẹp nền giáo dục cách mạng Việt Nam. 50 năm trưởng thành của nhà trường là dòng chảy liên tục, gắn liền với các mốc son lịch sử cách mạnh chói lọi của một dân tộc anh hùng.

PHẦN I:
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1965: NHỮNG NĂM KHỞI ĐẦU

Năm 1954, với chiến thắng oanh liệt ở Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơ Ne Vơ về Đông Dương, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng chuyển lên giai đoạn cách mạng Xã hội Chủ nghĩa và bước vào thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội.

Tháng 9 năm 1960 Đại hội Đảng lần thứ III thông qua kế hoạch 5 năm (1961 – 1965) lần thứ nhất. Nghị quyết của Đảng đã xác định một cách toàn diện đường lối chủ trương của công tác giáo dục trong thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

Tháng 6 năm 1961 Trường phổ thông cấp 3 Nghi Lộc – một trong 9 trường cấp 3 đầu tiên của tỉnh Nghệ An được thành lập. Nơi khai sinh của nhà trường là Quán Hành, Nghi Trung, Nghi Lộc. Hai niên khóa đầu nhà trường phải học nhờ cơ sở vật chất của trường cấp 2 huyện Nghi Lộc. Nhà trường đã nhận được sự giúp đỡ chí tình của trường cấp 2 và phòng giáo dục huyện Nghi Lộc. Đội ngũ cán bộ và giáo viên ban đầu của nhà trường chỉ có 13 người gồm: Thầy Võ Tính (Hiệu trưởng), thầy Nguyễn Văn Duyên (Bí thư chi bộ), thầy Nguyễn Văn Duy, thầy Nguyễn Quang Linh, thầy Nguyễn Trọng Bình, thầy Lê Anh Tề, thầy Tôn Gia Các, thầy Nguyễn Văn Đậu, thầy Trịnh Duy Chữ, thầy Lê Văn Khang, thầy Tạ Luân, cô Nguyễn Thị Lan, cô Nguyễn Thị Hà. Năm 1963 có thêm thầy Hoàng Nghĩa Lịch, thầy Nguyễn Huy Tý, thầy Nguyễn Duy Hân, thầy Hoàng Đình Chân.

Năm học đầu tiên nhà trường chỉ có 3 lớp: 2 lớp 8 và 1 lớp 9 (nay là lớp 10 và 11). Vạn sự khởi đầu nan, trong điều kiện vừa phải dạy và học, vừa phải xây dựng cơ sở vật chất ban đầu, mãi tới năm học 1963 – 1964 nhà trường mới có đủ cơ sở vật chất tối thiểu phục vụ yêu cầu dạy và học và đây cũng là năm học trong lễ khai giảng, nhà trường vinh dự được đón đồng chí Nguyễn Duy Trinh ủy viên Bộ Chính trị về thăm và tặng quà cho nhà trường.

Dù có rất nhiều khó khăn và hạn chế nhưng do nắm vững quan điểm của Đảng về chức năng của giáo dục trong nền chuyên chính vô sản, vấn đề người dân làm chủ sự nghiệp giáo dục, vấn đề giáo dục phục vụ sản xuất, đào tạo con người lao động. Các thầy cô giáo của nhà trường đã phấn đấu thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua hai tốt (Dạy tốt, học tốt) và giải thưởng dạy giỏi, học giỏi do Bác Hồ khởi xướng (Tháng 9 năm 1961 và tháng 12 năm 1962). Nhiều chuyên đề về phương pháp giảng dạy như “Giảng ít, luyện nhiều”, “Nhớ bài ngay trên lớp”, “Kết hợp lời giảng của thầy và sự suy nghĩ của trò”, “Làm và sử dụng đồ dùng dạy học” được nhà trường đẩy mạnh làm cho cả ba đối tượng kém, trung bình, khá đều tiếp thu được các kiến thức thầy truyền thụ. Trong giáo dục tư tưởng, đạo đức, nổi lên vấn đề giáo dục lòng yêu quê hương. Từ lòng yêu quê hương mà nâng lên lòng yêu Tổ quốc và lý tưởng cách mạng.

Những khóa học đầu nhà trường đều có trên 93% học sinh đậu tốt nghiệp. Có nhiều người được cử đi học Đại học ở nước ngoài

PHẦN II
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975: CHẶNG ĐƯỜNG THẮNG MỸ TRÊN MẶT TRẬN GIÁO DỤC

Bị thất bại trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” năm 1965 Đế quốc Mỹ đã liều lĩnh chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và gây ra chiến tranh phá hoại rất ác liệt ở miền Bắc.

Tháng 2 năm 1965 Đế quốc Mỹ liên tiếp dùng máy bay và tàu chiến đánh phá ra miền Bắc và Nghi Lộc là nơi bị địch đánh phá đầu tiên, và sau này càng ngày càng bị đánh phá ác liệt.

Ngày 5 tháng 8 năm 1965, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị về chuyển hướng công tác giáo dục trước tình hình và nhiệm vụ mới (Chỉ thị 88/CT- TTG). Nắm vững các phương hướng chuyển hướng giáo dục trong thời chiến và đảm bảo nhu cầu học tập của con em nhân dân ở các vùng miền. Tháng 8 năm 1965 huyện Nghi Lộc có thêm một trường cấp 3 ở miền Tây Nghi Lộc (Chia sẽ cơ sở vật chất, nhân sự và học sinh từ cấp 3 Nghi Lộc về). Trường cấp 3 Nghi Lộc có tên mới – Cấp 3 Nghi Lộc 1.

Suốt 10 năm (1965 – 1975)(Thầy Nguyễn Trọng Bình là hiệu trưởng nhà trường từ năm học 1966 – 1967), trong mưa bom, bão đạn cấp 3 Nghi Lộc 1 vẫn kiên cường xứng danh với thời đại anh hùng của quê hương, đất nước.

Thực hiện khẩu hiệu:

- Tuyệt đối bảo đảm an toàn tính mạng cho thầy và trò;

- Kết hợp phòng, tránh và đánh giặc.

Những năm tháng quê hương chìm trong khói lửa chiến tranh, hy sinh, mất mát, tuổi trẻ của nhà trường vẫn sục sôi tinh thần “Tiếng hát át tiếng bom”; “Địch phá ta cứ đi”, “Đội bom đi học”. Khác với luận điệu tuyên truyền của địch là “Chỉ đánh vào các mục tiêu quân sự” sự thực là trường học, bệnh viện, nhà thờ cũng là mục tiêu của chúng. Với trường cấp 3 Nghi Lộc 1, đã 5 lần bị đánh phá, điển hình là vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 16 tháng 5 năm 1972, máy bay Mỹ đánh vào nhà trường đã thiêu trụi toàn bộ cơ sở vật chất của nhà trường (Gồm 26 phòng học, khu văn phòng và các công trình phụ trợ khác).

Khó mà tính toán được công sức, của cải của thầy, trò, phụ huynh và nhân dân đã bỏ ra để làm hàng trăm cái lán học, để đắp các lũy chắn từng phòng học, để đào hàng ngàn căn hầm trú ẩn (Hầm cá nhân, hầm tập thể), hầm Triều tiên, hầm ngách, hầm chữ A, giao thông hào v.v..Đã có hàng vạn ngày công của thầy và trò tham gia trực chiến, lấp hố bom, tải đạn, tải thương, cứu thương  v.v ...

Trong những năm chiến tranh phá hoại miền Bắc của Đế quốc Mỹ, nhà trường đã phải hơn 10 lần đi sơ tán qua các xã Nghi Trung, Nghi Thịnh, Nghi Phong, Nghi Trường, Nghi Long và đến các huyện Hưng Nguyên, Nghĩa Đàn ...với tinh thần “Đôi hài vạn dặm”

Mặc dù kẻ địch lắm âm mưu quỷ quyệt, đánh phá ác liệt nhưng với sự chăm lo hết lòng của nhà trường trên tinh thần “Quyết thắng địch trên mặt trận giáo dục”, nên đã hạn chế được thiệt hại ở mức thấp nhất.

Quán triệt tinh thần của Chỉ thị 88 TTG về chuyển hướng giáo dục trong thời chiến là làm tốt hơn nữa công tác giáo dục trong bất kỳ tình huống nào, nghĩa là giáo dục phải được tiếp tục phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Thực tế của nhà trường về số lượng cho dù chiến tranh ngày càng khốc liệt nhưng số lượng học sinh của nhà trường càng ngày càng tăng (Năm học 1965 – 1966 số học sinh là 400, năm học 1974 – 1975 đã hơn 1600, tăng hơn 4 lần).

Trong chiến tranh ác liệt có người cho rằng giữ vững được số lượng đã là rất khó, nói gì đến chất lượng. Đánh giá tình hình chất lượng văn hóa của học sinh tỉnh nhà ở giai đoạn này đồng chí Võ Thúc Đồng (Bí thư tỉnh ủy Nghệ An) diễn đạt “Nằm trên đồ thị đi xuống”. Trong tình hình đó trường cấp 3 Nghi Lộc 1 quyết tâm phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục: Trên cơ sở phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện (Đức, trí, kỹ, lao, quân, thể, mỹ), trong giai đoạn này tập trung vào các hoạt động:

- Về giáo dục tư tưởng chính trị: Giáo dục về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thông qua chương trình nội khóa, ngoại khóa, rèn luyện trong cuộc sống sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu của địa phương. Thực hiện chân lý của thời đại “Không có gì quý hơn độc lập tự do” (Hồ Chủ Tịch ngày 17/7/1966).

Một biểu hiện hùng hồn về chuyển biến ở mặt hoạt động này là: có hàng ngàn (Số liệu thống kê là hơn 8000) thầy và trò các thế hệ của trường cấp 3 Nghi Lộc 1 nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đã “Xếp bút nghiên” lên đường ra mặt trận. Nhiều người đã trở thành anh hùng, dũng sỹ, các cán bộ cao cấp trong quân đội. Nhiều người đã để lại một phần xương máu của mình nơi trận địa. Nhiều người đã vĩnh viễn không trở về - Những liệt sỹ đã hy sinh đời mình cho độc lập tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc muôn đời của các thế hệ mai sau (Số liệu thống kê là 1123 liệt sỹ)

- Về chất lượng văn hóa: Phát động phong trào “Ba mũi giáp công trong giảng dạy”:

+ Giảng dạy đảm bảo đúng kiến thức khoa học;

+ Giảng dạy gắn với cuộc sống sản xuất, chiến đấu;

+ Giảng dạy theo phương pháp: Phát huy tính tự giác tích cực của học sinh,

Quan tâm phát hiện bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém, tổ chức tốt các kỳ thi theo quy định.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Dù khó khăn đến đâu cũng thi đua dạy tốt, học tốt” và thư của Bác Hồ gửi thầy giáo và học sinh ngày 15 tháng 10 năm 1968. Kỳ thi tốt nghiệp cấp 3 năm 1972, tại nơi sơ tán là xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, 100% học sinh của trường đậu tốt nghiệp, đậu Đại học đứng thứ 2 tỉnh, được Ty Giáo dục Nghệ An tặng cờ thi đua luân lưu “Lá cờ đầu trí dục”.

Trong 4 năm (1968 – 1972), nhà trường được Bộ giáo dục tặng 4 bằng khen “Đơn vị xuất sắc trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước”. Chi đoàn giáo viên của nhà trường được Trung ương đoàn tặng danh hiệu “Chi đoàn thép”

PHẦN III
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1985: VƯỢT QUA KHÓ KHĂN CỦA THỜI HẬU CHIẾN

Toàn nhân loại hồi hộp suốt 30 năm dõi theo cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, hào hùng của một dân tộc “Ra ngõ là gặp anh hùng”, một dân tộc đã trở thành “Lương tâm của thời đại”, “Một dân tộc nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to”, để rồi nghiêng mình thán phục một dân tộc đã trở thành “Tinh hoa của thời đại”. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tổ quốc thống nhất, non sông liền một giải, đất nước trọn niền vui.

Những sự kiện nổi bật trong giai đoạn này là:

+ Nhập 2 Ty Giáo dục của Nghệ An và Hà Tĩnh thành Ty Giáo dục Nghệ Tĩnh;

+ Trận lụt lịch sử năm 1978 gây thiệt hại lớn;

+ Chiến tranh biên giới phía Bắc;

+ Đại Hội Đảng lần Thứ IV;

+ Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục;

+ Chỉ thị 01 về “Cuộc vận động tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng trong trường học” của UB cải cách giáo dục Trung ương;

+ Cải cách giáo dục (Lần thứ 3) từ năm học 1981 – 1982;

+ Kinh tế gặp nhiều khó khăn.

Trong bối cảnh ấy, thầy và trò trường cấp 3 Nghi Lộc 1 với truyền thống hiếu học của quê hương, với tinh thần vượt khó khăn gian khổ, đã vượt qua mọi thử thách để phát triển.

Từ tranh tre, nứa lá với sức người, sức của của nhà nước, nhân dân, thầy và trò đã xây dựng được (Đến năm 1980) một ngôi trường với 36 phòng học cấp 4, một nhà thí nghiệm thực hành, khu hành chính, khu tập thể giáo viên....tại xóm 15 Nghi Trung (Cầu Nhọn).

Về quy mô: Từ chỗ trường có quy mô 36 lớp năm học 1974 – 1975, đến năm học 1978 – 1979 trường đã có quy mô 51 lớp . (Năm học 1979 – 1980: có phân hiệu 2 của Nghi Lộc 1 ở xã Nghi Xuân. Năm học 1982 – 1983 chính thức có trường cấp 3 Nghi Lộc 3).

Đây là thời kỳ thầy và trò đã cùng nhau đốt vôi, nung gạch xây trường, đào ao nôi cá, trồng lúa, trồng khoai để tiếp tục thi đua “Hai tốt”, thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.

PHẦN IV
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY: GIÁO DỤC PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP, NỀN KINH TẾ TRI THỨC, CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯ
ỚC

Năm 1986 Đảng ta tiến hành đổi mới, “Tự cứu lấy mình trước khi trời cứu”, với những việc “Cần làm ngay”. Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là đời sống nhân dân nói chung và cán bộ, giáo viên nói riêng gặp nhiều khó khăn, nhiều giáo viên xin nghỉ việc, tình trạng giáo viên dôi dư (Công tác biên chế kéo dài cho đến 1991 – 1992). Khó khăn của ngành giáo dục nói chung và ở trường cấp 3 Nghi Lộc 1 – sau này là trường PTTH Nghi Lộc 1 (1981 – 1982) nói riêng là rất lớn.

Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, nhà trường đã tích cực tham gia chương trình “Lương thực và thực phẩm”. Đào ao nuôi cá (Cá thịt và cá giống), trồng nấm, khai hoang 6 héc ta đất trồng lạc, trồng vừng, trồng khoai, trồng đậu, trồng cây dược liệu .... (từ năm 1986 đến năm 1994).

Giai đoạn từ 1986 – 1990 là giai đoạn nhà trường có nhiều cải tiến sáng tạo trong công tác quản lý giáo dục, nhà trường là đơn vị thí điểm về “Tự tuyển sinh” và “Tự đánh giá” cho Nghệ An, cũng là cho toàn quốc.

Năm 1986 Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm trường, nhiều đoàn đại biểu của Liên Xô, Cộng hòa nhân dân Lào cũng đã về thăm trường.

Giai đoạn 1990 – 1995, thầy Hoàng Tập là hiệu trưởng nhà trường từ năm 1991. Năm 1993 nhà trường được trở về thị trấn Quán Hành, nơi khai sinh ra trường cấp 3 Nghi Lộc.

Với những tư tưởng chiến lược lớn của Đại hội Đảng lần thứ VII, đặc biệt trong đó xác định bản chất và tính ưu việt của chế độ ta là: Tất cả vì con người, cho con người và do con người. Nghị quyết 4 về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” của BCH Trung ương Đảng đã xác định các quan điểm chỉ đạo: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước. Mục tiêu của giáo dục đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp....Nhà trường đã tập trung cao cho chất lượng “Đại trà” và “Mũi nhọn”.

Giai đoạn 1995 đến nay: Thầy Nguyễn Huy Hiền là hiệu trưởng nhà trường từ năm 1994.

Mặc dù còn nhiều khó khăn lớn, nhưng bên cạnh việc mở rộng quy mô số lượng, đẩy mạnh việc xây dựng và đổi mới cơ cấu trường học. Nhà trường đã có sự phấn đấu vượt bậc về chất lượng đội ngũ, về nội dung, chất lượng dạy và học theo xu hướng hiện đại hóa. Phấn đấu để “Trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò, dạy ra dạy, học ra học”. Nhà trường đã xây dựng được một tập thể sư phạm đủ tâm, đủ tài đảm đương được “dạy chữ, dạy người”, đáp ứng được nhu cầu của người học là học để biết, học để làm việc, học để sống, học để làm người.

Quán triệt và thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, với tinh thần “Tất cả vì học sinh thân yêu” được đề cao, phong trào “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương sáng cho học sinh noi theo” được quán triệt. Cuộc vận động “Dân chủ, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm” được thực hiện có hiệu quả cao.

Trong giáo viên các chuyên đề về đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp chủ nhiệm lớp được coi trọng, phong trào phấn đấu đạt giáo viên giỏi các cấp, phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi được đẩy mạnh và ngày càng có hiệu quả.

Bên cạnh tạo điều kiện động viên giáo viên tự học, nhà trường còn tạo điều kiện để giáo viên đi học thêm trên chuẩn. Bên cạnh các kiến thức văn hóa cơ bản của chương trình nội khóa, nhà trường còn tổ chức các giờ học ngoại khóa về lịch sử, truyền thống, về nghĩa vụ công dân, về kỹ năng sống, về sức khỏe sinh sản vị thành niên, về luật giao thông, về phòng chống tệ nạn xã hội, ma túy v.v.... Nhà trường đã hiện thực hóa được sự phối hợp của 3 môi trường giáo dục”Nhà trường, gia đình và xã hội”, làm tốt nhiệm vụ xã hội hóa giáo dục.

Về cơ sở vật chất nhà trường đã xây dựng theo tinh thần đáp ứng tiêu chuẩn của trường chuẩn quốc gia. Từ năm 1994 đến năm 2005 nhà trường đã xây dựng được 36 phòng học cao tầng, 2 phòng vi tính, 2 phòng thí nghiệm thực hành, 1 hội trường, một khu làm việc hành chính, một hệ thống phòng tổ bộ môn và một phòng truyền thống.

Về trang thiết bị dạy và học, ngoài sự trang bị của nhà nước (Thời gian này là rất hạn chế), nhà trường đã có sự hỗ trợ rất quý giá của nhiều tổ chức, cá nhân, học trò cũ của nhà trường.

Về quy mô, sau khi chia tách trường THPT Nghi Lộc 4(Năm 1999), nhà trường vẫn giữ quy mô 44 lớp với hơn 2000 học sinh.

Kết quả chất lượng giáo dục của nhà trường đều đạt cao: Tỷ lệ đậu tốt nghiệp hàng năm đều cao(100% hoặc xấp xỉ 100%). Học sinh giỏi, học sinh đậu Đại học hàng năm đều đứng tốp đầu của tỉnh (Những năm có thi học sinh giỏi quốc gia đều có học sinh giỏi quốc gia). Năm nào nhà trường cũng đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh.

Sự phấn đấu hết lòng, hết sức, không mệt mỏi, liên tục của nhà trường cho sự nghiệp trồng người đã được ghi nhận, tôn vinh.

Nhà trường đã nhận được nhiều giấy khen, bằng khen của Sở, tỉnh và Bộ GD&ĐT. Các tổ chuyên môn của nhà trường đều đạt danh hiệu “Tổ lao dộng xã hội chủ nghĩa”, nhà trường đạt danh hiệu “Đơn vị văn hóa”.

Đặc biệt nhà trường đã được ghi nhận tôn vinh:

- Năm 1996: Nhà trường vinh dự được Đảng, nhà nước trao tặng phần thưởng cao quý: Huân chương lao động hạng ba;

- Năm 2001:Nhà trường vinh dự được Đảng, nhà nước trao tặng phần thưởng cao quý: Huân chương lao động hạng nhì;

- Năm 2005: Nhà trường được công nhận là trường “Đạt chuẩn quốc gia” – một trong ba trường THPT đầu tiên của Nghệ An đạt chuẩn quốc gia.

Từ năm học 2006 - 2007 thầy Hoàng Văn Thái (Là phó hiệu trưởng THPT Nghi Lộc 1 về Hiệu trưởng THPT Nghi Lộc 4 từ 1999) là hiệu trưởng THPT Nghi Lộc 1.

Thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Với tinh thần “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước”. Nhà trường đã tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, cuộc vận động “Hai không” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, đặc biệt coi trọng giáo dục nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.

Nhà trường đã tập trung nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Nhiều chủ trương biện pháp đã được thực hiện như triển khai mạnh mẽ phong trào đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy, phong trào thi soạn giáo án điện tử, triển khai công tác nghiên cứu khoa học, viết sáng kiên kinh nghiệm phục vụ cho dạy và học, phong trào dự giờ thao giảng.

Cùng với chương trình giáo dục chính khóa, nhiều hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tổ chức như: Câu lạc bộ “Di cư an toàn”, câu lạc bộ “Học mà vui, vui mà học”, câu lạc bộ “Em yêu lịch sử”, câu lạc bộ tiếng Anh, câu lạc bộ chào xuân, tổ chức cho học sinh tham quan, học tập các di tích lịch sử trong tỉnh. Tổ chức các hội thi như: Hội thi “Thời trang và môi trường”, hội thi hát dân ca, các trò choi dân gian v.v...

Công tác xây dựng đội ngũ luôn được nhà trường quan tâm cả về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn. Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ. Triển khai tập huấn nhiều chuyên đề bồi dưỡng giáo viên như: Tập huấn chuẩn nghề nghiệp giáo viên, tập huấn dạy học tự chọn, tập huấn dạy học môn tiếng Anh, tập huấn viết sáng kiến kinh nghiệm, tập huấn thiết kế bài giảng E learning, tập huấn dạy học, kiểm tra  đánh giá theo chuẩn kiến thức, tập huấn biên soạn đề kiểm tra, thiết lập ma trận đề kiểm tra v.v... Tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo chuyên đề trong giáo viên như hội nghị chuyên đề “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, hội nghị chuyên đề công tác giáo viên chủ nhiệm lớp, hội nghị chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém v.v...

Trong những năm qua tập thể sư phạm của nhà trường không ngừng được bổ sung về số lượng và chất lượng. Hiện tại có 26 giáo viên có trình độ trên chuẩn, đạt tỷ lệ 39,2%, có 8 giáo viên đang theo học thạc sĩ. Số lượng giáo viên dạy giỏi các cấp chiếm tỷ lệ cao. Là một trong những tập thể sư phạm mạnh nhất trong khối THPT của tỉnh nhà.

Hiện tại về cơ sở vất chất so với trước nhà trường đã huy động nguồn lực đầu tư xây dựng thêm nhà học 3 tầng phục vụ cho dạy và học: Trong đó có 3 phòng học vi tính với 75 máy, 4 phòng máy chiếu, 3 phòng thí nghiệm thực hành. Cải tạo và xây mới hệ thống nhà để xe cho cán bộ, giáo viên và học sinh, cải tạo nâng cấp sân trường. Cảnh quan sư phạm của nhà trường Xanh – Sạch – Đẹp, cơ sở bề thế, khang trang, hiện đại.

Trong 5 năm gần đây sự cống hiến của thầy và trò vẫn được các cấp chính quyền và ngành ghi nhận, trường liên tục được công nhận là trường tiên tiên, tiến tiến xuất sắc cấp tỉnh, năm học 2009 – 2010 trường được UBND tỉnh tặng cờ thi đua xuất sắc, năm học 2010 – 2011 được Thủ tướng chính phủ tặng cờ thi đua xuất sắc.

Năm 2011- kỷ niệm 50 năm thành lập trường, nhà trường đang được các cơ quan có thẩm quyền đề nghị Chủ tịch nước xét tặng Huân chương lao động hạng nhất.

50 năm trường THPT Nghi Lộc 1 xây dựng và trưởng thành, đã hoàn thiện một “Cốt cách”, “Một thương hiệu” Nghi Lộc 1 rất đáng trân trọng và tự hào.
 

LÃNH ĐẠO NHÀ TRƯỜNG QUA CÁC THỜI KỲ
 
TT
HỌ VÀ TÊN
BT CHI BỘ
HIỆU TRƯỞNG
P.HIỆU TRƯỞNG
1
Võ Tính
 
1961 - 1965
 
2
Nguyễn Trọng Bình
1984 - 1990
1966 - 1990
 
3
Hoàng Tập
 
1991 - 1994
19     - 1991
4
Nguyễn Huy Hiền
1990 - 2006
1994 - 2006
1986 - 1994
5
Hoàng Văn Thái
2006 - nay
2006 - nay
1996 - 1999
6
Nguyễn Văn Duyên
1961 – 1965
 
 
7
Nguyễn Huy Tý
1965 – 1970
 
 
8
Hoàng Khắc Tiệp
1970 – 1974
 
 
9
Nguyễn Duy Hân
 
 
1968 - 1975
10
Hoàng Đình Chân
 
 
?
11
Nguyễn Văn Lý
1974 – 1976
 
 
12
Ng. Xuân Nguyên
1976 - 1981
 
1976 – 1981
13
Nguyễn Đức Du
1981 - 1984
 
?           1984
14
Tạ Cẩn
 
 
1990 – 1992
15
Đào Nguyên Kỷ
 
 
1994 – 2005
16
Phạm Đức Hùng
2006
 
2000 – 2006
17
Phạm Trường Giang
 
 
2004 – nay
18
Hoàng Thị Kim Liên
 
 
2006 – nay
19
Đặng Thái Bình
 
 
2007 – nay
 
DANH SÁCH GIÁO VIÊN GIỎI TỈNH QUA CÁC THỜI KỲ
 
TT
HỌ VÀ TÊN
MÔN
NĂM CÔNG NHẬN
GHI CHÚ
1
Nguyễn Huy Hiền
Hóa học
1980
 
2
Nguyễn Nhờn
Toán
 
 
3
Vương Đạo Chân
Vật lý
 
 
4
Nguyễn Hoàng Hỷ
Toán
 
 
5
Nguyễn Viết Bút
Toán
 
 
6
Hà Xuân Đàm
Sinh vật
 
 
7
Lê Hữu Đức
Vật lý
1994
 
8
Hoàng Văn Thái
Toán
 
 
9
Nguyễn Văn Thư
Toán
 
 
10
Hồ Thị Thao
Lịch sử
 
 
 
11
Trần Huy Quang
Hóa học
1994
 
12
Nguyễn Thị Quang
Sinh vật
1994
 
13
Nguyễn Thị Quế
Ngữ văn
 
 
14
Tô Bá Long
Hóa học
 
 
15
Hoàng Hùng
Hóa học
 
 
16
Phan Hòa
Vật lý
 
 
17
Võ Thanh Hoa
Vật lý
 
 
18
Lê Thị Hướng
Anh văn
1994
 
19
Nguyễn Quốc Tửu
Địa lý
 
 
20
Nguyễn Thị Hạnh
Sinh vật
 
 
21
Bùi Thị Thảo
Văn
1993
 
22
Nguyễn Phúc Thái
Thể dục
 
 
23
Nguyễn Thị Lam
Thể dục
1994
 
24
Cao Thị Cúc
KTNN
 
 
25
Nguyễn Thị Tuyết
Địa lý
 
 
26
Phạm Thị Mai
Toán
1994
 
27
Nguyễn Thị An
Sinh vật
1996
 
28
Phạm Đức Hùng
Địa lý
1996
 
29
Phạm Trường Giang
Lịch sử
2002
 
30
Ng. Thị Kim Ngân
GDCD
 
 
31
Phạm Thị Bình
GDCD
1996
 
32
Bùi Thị Hằng
GDCD
2002
 
33
Đặng Thái Bình
Vật lý
1999
 
34
Hoàng T. Kim Liên
GDCD
2006
 
35
Đặng Thị Đào Tĩnh
Ngữ văn
2002
 
36
Phùng Lệ Hằng
Ngữ văn
2006
 
37
Trần Thị Hương
Thể dục
1993,1997
 
38
Hoàng Thị Anh Đào
Thể dục
2006, 2009
 
39
Võ An Sơn
Toán
2006
 
40
Vũ Thị Tuệ
Toán
2006
 
41
Phạm Thanh Lương
Vật lý
2009
 
42
Nguyễn Khánh Tân
Vật lý
2009
 
43
Nguyễn Thị Nga
Sinh vật
2006
 
44
Bùi Thị Hậu
Lịch sử
2009
 
45
Ng. Thị Ngọc Dung
Lịch sử
2006
 
46
Nguyễn Thị Đào
Lịch sử
 
 
47
Trần Trung Hiếu
Lịch sử
 
 
48
Nguyễn Trung Hiếu
Địa lý
 
 
49
Ng. Thị Thu Hà
Anh văn
 
 
 
 
MỘT SỐ TRONG SỐ HỌC SINH CỦA NHÀ TRƯỜNG THÀNH ĐẠT
 
HỌ VÀ TÊN
KHÓA
HỌC HÀM, HỌC VỊ, CHỨC VỤ
Phạm Hồng Minh
1961 - 1963
Trung tướng- Nguyên BT đảng ủy - Phó TL QK4
Trần Văn Viên
1961 - 1963
Tiến sỹ  – Nguyên vụ trưởng Bộ năng lượng
Nguyễn Đình Kiên
1963 - 1966
Đại tá – Anh hùng lực lượng vũ trang
Nguyễn Văn Thêm
1963 - 1966
Đại tá – Nguyên cục phó cục 2
Đặng Bá Kiệm
1963 - 1966
Nguyên Cục phó cục thuế nhà nước tại TP HCM
Hoàng Tất Thắng
1964 - 1967
Nguyên P.chủ tịch tỉnh NA, cục phó cục hằng hải
Hoàng văn Minh
1964 - 1967
Nguyên P. VT viện KS NA - ủy viên QH 10,11
Phạm Thành Ngưỡng
1964 - 1967
Đại tá – Anh hùng LLVT
Võ Văn Cầu
1964 - 1967
Đại tá – Nguyên cục trưởng Bộ Công an
Võ Việt Hà
1964 - 1967
Đại tá – Nguyên Trưởng phòng Bộ Công an
Trương Hữu Quốc
1964 - 1967
Đại tá – Nguyên Phó phòng Bộ Công an
Nguyễn Huy Hòa
1964 - 1967
Đại tá – Cục trưởng cục hậu cần QK5
Võ Minh Phổ
1965 – 1968
Tiến sỹ - Đại tá  Cán bộ Học viện kỷ thuật quân sự
Lê Văn Năm
1965 – 1968
Tiến sỹ – Cán bộ giảng dạy trường ĐH KTQD
Phùng Quang Nhượng
1965 - 1968
Giám đốc công ty máy tính
Lê Doãn Hợp
1966 - 1969
Tiến sỹ  – Nguyên Bộ trưởng Bộ TT& TT
Trần Cảnh Vinh
1966 - 1969
GS-TS, NGND- HT trường ĐHGTVT TPHCM
Đặng Thọ Truật
1966 - 1969
Đại tá Nguyên tổng BT báo QĐND tại TPHCM
Phùng Ngọc Hùng
1967 - 1970
Nguyên thứ trưởng bộ Lao động TBXH
Hoàng Văn Lâm
1967 - 1970
Nguyên P.chủ tịch HĐND Tỉnh Kon Tum
Nguyễn Thọ Cảnh
1967 - 1970
Giám đốc Sở Nông nghiệp PTNT Nghệ An
Hoàng Hiếu
1967 - 1970
Phó Giám đốc sở KH và đầu tư Nghệ An
Nguyễn Quốc Tế
1967 - 1970
PGS- Tiến sỹ  Phó HT trường ĐHKT TP HCM
Nguyễn Bá
1967 – 1970
Giám đốc nhà máy điện Uông Bí
Nguyễn Hồng Nam
1967 - 1970
Nguyên chủ tịch liên đoàn LĐ Nghệ An
Trần Quốc Hiển
1967 - 1970
Phó chủ tịch UBND huyện Nghi Lộc
Nguyễn Huy Định
?
Đại tá- Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An
Nguyễn Sỹ Đức
?
Đại tá- Chanh thanh tra Sở Công an Nghệ An
Võ Đại Huệ
?
Liệt sỹ - Anh hùng LLVT
Lê Kế Sơn
1968 - 1971
GS – TS Phó tổng cục trưởng Bộ TNMT
Nguyễn Đăng Giáp
1968 - 1971
Đại tá – AHLĐ - Tổng GĐCT 36 Bộ QP
Phạm Huy Hân
1968 - 1971
Tiến sỹ  – Trường ĐHKTQD
Nguyễn Đức Hanh
1968 - 1971
Đại tá – Nguyên CN khoa chiến thuật Lục quân 1
Phan Công Lưu
1970 - 1973
Phó bí thư thường trực TX Cửa Lò
Nguyễn Hữu Tiến
1970 - 1973
Phó chủ tịch Thị xã Cửa Lò
Đinh Xuân Lâm
1970 - 1973
P. Giám đốc Sở Nội vụ Nghệ An
Nguyễn Quốc Tuấn
1970 - 1973
Thiếu tướng – Nguyên P. tư lệnh QK2
Hoàng Văn Việt
1970 - 1973
Giám đốc CTXD Hiệp Thành Vũng Tàu
Trương Như Vương
1970 - 1973
Nguyên viện trưởng viện hình sự Bộ Công an
Hoàng Văn Hoa
1970 - 1973
Tiến sỹ -VT viện KT trường ĐHKTQD TP HCM
Hoàng Hoa
1970 - 1973
Tiến sỹ  – Phó trưởng khoa TCNH ĐHKTQD
Nguyễn Hữu Quang
1970 - 1973
Tiến sỹ  – PGS CBGD khoa toán ĐH Vinh
Vương Đình Huệ
1971 - 1974
Tiến sỹ - GS Bộ trưởng Bộ tài chính
Trần Hồng Châu
1971 - 1974
Phó bí thư thường trực tỉnh ủy Nghệ An
Hoàng Văn Hải
1971 - 1974
Trưởng ban kiểm soát tập đoàn BCVT
Phạm Quang Xuân
1971 – 1974
Tiến sỹ- Thiếu tướng – Tư lệnh bộ đội Công binh
Nguyễn Văn Đoài
1971 - 1974
Đại tá – Phó chính ủy trường SQ pháo binh
Vũ Đăng Hiến
1971 - 1974
Đại tá – PGS, TS Phó viện trưởng viện hậu cần QĐ
Nguyễn Ngọc Kiệm
1971 - 1974
Đại tá – Học viện lục quân Đà Lạt
Nguyễn Văn Trung
1971 - 1974
Bí thư huyện Lắc, tỉnh Đắc Lắc
Trần Bá Khanh
1971 - 1974
Thầy thuốc ưu tú – GĐ bệnh viện Nghi Lộc
Nguyễn Huy Nam
1971 – 1974
Tổng GĐCTKT của TW Đảng tại TP HCM
Lê Đình Thành
1971 - 1974
CTHĐQT kiêm Giám đốc CTCP Triều Nam
Trần Quốc Hòa
1971 – 1974
P.Tổng giám đốc CTcấp thoát nước Sài Gòn
Ng. Tâm Phương
1971 - 1974
Giám đốc CT thiết bị trường học Ngân Hà
Trần Ngọc Lan
1971 - 1974
Giám đốc CTTNHH Lan Lộc
Nguyễn Thị Sáu
1971 - 1974
Giám đốc CTTNHH xây dựng
Nguyễn Quốc Huy
1971 - 1974
Tiến sỹ - P.Giám đốc CT cảng dịch vụ dầu khí
Lê Kế Phong
1971 - 1974
Giám đốc công ty XD giao thông 1
Lê Hữu Thủy
1971 - 1974
Hiện đang công tác ở nước ngoài
Lương Đình Thành
1971 - 1974
Đại tá cục kỷ thuật QK4
Trần Thanh Lâm
1971 - 1974
Công ty DVKT dầu khí Vũng tàu
Trần Công Hòa
1971 - 1974
Giám đốc công ty xây dựng
Võ Văn Đường
1971 - 1974
Giám đốc công ty xây dựng
Đặng Bá Thủy
1971 - 1974
Công ty xăng dầu Nghệ Tĩnh
Lê Thị Vinh
1971 - 1974
Công ty Tân Hoàng minh
Võ Văn Viêt
1972 - 1975
Thiếu tướng- chủ nhiệm chính trị QK4
Lê Văn Toản
1972 - 1975
Tiến sỹ – NGND – Đại tá học viện QS TPHCM
Nguyễn Bá Thái
1972 - 1975
Đại tá-  Trưởng ban tài vụ QK9
Lê Duy Tân
1972 – 1975
Đại tá- Chánh thanh tra công an Đắc Nông
Trương Thanh Hải
1972 – 1975
Đại tá-HT trường quân chính Bộ CHQS Nghệ An
Lê Văn Hạ
1972 – 1975
Đại tá- Bộ chỉ huy quân sự Quân khu 3
Phạm Văn Ba
1972 - 1975
Đại tá- Nhà văn Bộ công an
Nguyễn Văn Hồng
1972 - 1975
Đại tá – Trường Sỹ quan lục quân 2
Nguyễn Văn Trung
1973 - 1976
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư
Hoàng Xuân Cường
1973 - 1976
Tiến sỹ  – Đại tá – Bộ quốc phòng
Nguyễn Xuân Vinh
1973 - 1976
Tiến sỹ  – HT trường dạy nghề số 1 TLĐLĐVN
Nguyễn Đình Thủy
1973 - 1976
Tiến sỹ  – Đại tá trường Hải quân Việt Nam
Nguyễn Hoàng Hào
1973 - 1976
Phó Giám đốc Sở tư pháp Nghệ An
Nguyễn Văn Minh
1973 - 1976
P. chủ tịch HĐND Thị xã Cửa Lò
Nguyễn Thu Lan
1973 - 1976
Tiến sỹ - PGS giảng viên ĐH Huế
Nguyễn Văn Hùng
1973 - 1976
Tổng Giám đốc công ty sách TB miền Nam
Hoàng Quốc Trọng
1973 - 1976
Giám đốc BH Bảo Minh Bà Rịa – Vũng Tàu
Nguyễn Huy Mai
1973 – 1976
Đại tá – TP chống ma túy CA Lai Châu
Nguyễn Thanh Tĩnh
1973 - 1976
Đại tá – Lữ trưởng lữ vận tải QK7
Phạm Hồng Thanh
1974 - 1977
Đại tá – Cục phó cục chống TN tại miền Nam
Ng. Quang Vinh
1974 - 1977
Đại tá- Tham mưu trưởng bộ đội BP tại TPHCM
Võ Hồng Công
1976 - 1979
 Đại tá, TS  trường ĐH an ninh TPHCM
Phạm Đình Nghiệm
1973 - 1976
 PGS, TS  Đại học KHXH&NV ĐH TPHCM
Nguyễn Đình Đức
1975 - 1978
Đại tá – Phó chỉ huy BĐ Biên phòng Nghệ An
Hoàng Chân Thành
1975 - 1978
Đại tá – Trưởng phòng kinh tế QK4
Nguyễn Hữu Trực
1975 - 1978
Đại tá – Phó chính ủy sư đoàn 312
Cao Tùng Sơn
1975 - 1978
GĐ XNKT các công trình khí LD Việt-Xô Protro
Nguyễn Hồng Quang
1975 - 1978
Phó tổng Giám đốc xi măng VN, ủy viên QH
Lê Văn Khang
1975 – 1978
Chủ tịch UBND huyện Nghi Lộc
Nguyễn Hữu Cầu
1977 - 1980
Tiến sỹ  – Phó Giám đốc Công an Nghệ An
Trần Anh Dũng
1977 - 1980
Đại tá – Trưởng ban chính sách Bộ QP
Nguyễn Anh Tuấn
1977 - 1980
Vụ trưởng vụ kiểm toán nhà nước
Nguyễn Cảnh Hoành
1977 - 1980
Giám đốc công ty xây lắp Yên Lạc
Phạm Hồng Hải
1977 - 1980
Giám đốc TT ứng dụng KHCN Sở KHCN NA
Kiều Anh Mẫn
1978 - 1981
Giám đốc tổng CTTVGT Bà Rịa- Vũng Tàu
Nguyễn Trung Kiên
1978 - 1981
Tiến sỹ- Đại tá Chủ nhiệm khoa tim mạch BVQY4
Ng. Đình Thắng
1978 - 1981
Đại tá Bộ Quốc phòng
Đặng Hoàng Lan
1979 – 1982
Giám đốc công ty xây dựng Bình An
Hoàng Đức Thành
1980 - 1983
Tiến sỹ  – Giám đốc Bảo việt bank
Võ Anh Tuấn
1980 - 1983
Giám đốc Công ty Nam Việt
Đặng Khắc Vỹ
1981 - 1984
Chủ tịch HĐQT ngân hàng quốc tế 
Hoàng Hải
1981 - 1984
Giám đốc trung tâm bảo trì đường bộ 4
Nguyễn Tiến Dũng
1983 - 1986
Phó chủ tịch UBND huyện Nghi Lộc
Nguyễn Đình Phúc
1983 – 1986
Phó tổng giám đốc thép miền Nam
Trần Duy Cảnh
1987 - 1990
Giám đốc Công ty Luật Việt tại TP HCM
Vương Quang Hưng
1988 - 1991
Sở giao thông vân tải TPHCM
Lê Xuân Quân
1989 - 1992
Tổng Giám đốc CTCP KT nội thất NaNo
Nguyễn Quang Tâm
1989 - 1992
P. tổng giám đốc tập đoàn Bảo Việt
Vũ Anh Tuấn
1989 - 1992
Giám đốc công ty cổ phần Yên Châu – Hà Nội
Nguyễn Tiến Long
1991 – 1994
Tổng giám đốc Công ty cổ phần Nam tiến
Nguyễn Năng Hường
1992 - 1995
Giám đốc tài chính Công ty Windows Hà Nội

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

 

Tin mới gửi

Đăng ký thành viên

Thăm dò ý kiến

Theo bạn website này:

Giao diện đẹp, bố trí hợp lý

Mọi thứ tạm ổn

Cần bổ sung chức năng diễn đàn

Cũng bình thường

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 117

Máy chủ tìm kiếm : 93

Khách viếng thăm : 24


Hôm nayHôm nay : 7622

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 279622

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5457415