Doanh nghiệp giới thiệu

Tổng Công ty 36
Công ty Nano
Áp lực Đông Anh
An Phát
Công ty Sigma Việt Nam
Công ty Cổ phần thiết bị giáo dục và Khoa học kỹ thuật Ngân Hà

Liên kết website

Nghi Lộc 1
Khóa 70-73
Du lịch Cửa Lò
Vũ Đăng Hiến
Nguyên Hùng
Lê An Tuyên

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức - Sự kiện

Đăng bài viết

Tạ Thiết Hoài và những kỷ niệm về mái trường Cấp 3 Nghi Lộc 1

Thứ hai - 14/07/2014 04:15


Tạ Thiết Hoài, một cựu học sinh cấp 3 Nghi Lộc 1, khóa 1971-1974, hiện là cán bộ giảng dạy Học viện Kỹ thuật quân sự. Trước sự kiện Hội cựu học sinh khóa 1971-1974 sắp tổ chức kỷ niệm 40 năm ngày ra trường vào dịp 20/11/2014. Nhân dịp này BBT xin giới thiệu bài viết "40 năm - Ký ức dới lớp bụi thời gian "của anh về mái trường Cấp 3 Nghi Lộc 1.

           
40 năm - ký ức dưới lớp bụi thời gian


Viết tên trường lên nhãn vở và các lưu bút khác
Học trò ngày ấy thường thích viết tên trường như sau: Trường PT C3-NL1 hoặc Trường C3-NL1. Cụm ký tự C3-NL1 như là một ký hiệu mật quân sự, một hiện tượng thường gặp trong thời chiến. Nó cũng thể hiện cái khí phách học trò, thích những cái tinh nghịch, hay hay, khác người... Dùng ký tự như vậy cũng có cái tiện lợi khi lưu bút trên những không gian nhỏ. Còn nhớ, bạn đi bộ đội, lớp mình tặng một chiếc bút máy Trường Sơn, trên thân bút khắc dòng chữ “Lớp 10D C3-NL1 mến tặng”.  
Lớp học trường huyện hồi đó
Đầu tháng 8 năm 1971, Trường phổ thông Cấp 3 Nghi Lộc 1 tuyển chọn đợt đầu được 5 lớp (8A - 8B - 8C - 8D - 8E), đợt hai lấy thêm 2 lớp 8G - 8H, đợt ba lấy thêm lớp 8I. Khoản đóng góp xây dựng trường lúc bấy giờ là 5 cây tre + 10 cái tranh / 1 học sinh và số ngày công lao động làm lớp học cho đến khi xong. Chúng tôi cùng với phụ huynh tham gia làm phòng học theo kiểu nhà tranh vách đất.
Khỏi phải nói, lũ nhóc tỳ chúng tôi chỉ 13 – 14 tuổi, lứa tuổi ăn chưa no, lo chưa tới nhưng đã biết xoay xở để thích nghi với điều kiện sống của một đất nước đang có chiến tranh. Bạn Lương Đình Thành (Nghi Thịnh) kể lại: Hồi đó, mỗi sáng Thành đi học là mẹ gói cho mấy củ khoai, khi qua Cồn vàng thì dấu khoai vào bụi cây, trưa học về, đi qua đó lấy khoai ra ăn, xong mới có sức rảo bộ về nhà.
Lớp 8 của chúng tôi cứ thế trôi đi, cho đến một ngày cuối tháng Ba năm 1972. Hôm đó, nhà trường mời anh Đặng Thọ Truật, là học sinh cũ của trường, đến nói chuyện về chiến thắng của Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Chúng tôi lắng nghe với tất cả sự ngưỡng mộ các anh bộ đội đã dũng cảm, ngoan cường đánh thắng quân xâm lược. Hình ảnh xe tăng ta cưỡi lên đầu xe tăng địch cùng với việc bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ là niềm tự hào của mỗi chúng tôi. Hôm đó, thầy Phan Sinh Viên đã đọc bài thơ Mười điếu thuốc Trường Sơn chữ đỏ tặng dũng sĩ Đặng Thọ Truật và các anh bộ đội đã làm nên chiến thắng.
Thật không ngờ đó lại là buổi học cuối cùng năm lớp 8 của chúng tôi, vì ngay trưa hôm đó, máy bay Mỹ đã ném bom xuống trường. Trường lớp bị tàn phá. May mà học sinh đã về hết nên không có thương vong. Nhà trường quyết định kết thúc sớm năm học.
Bước vào lớp 9 cũng là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào một giai đoạn ác liệt. Từ vĩ tuyến 19 trở vào là trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ, hòng ngăn chặn dòng tiếp viện của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Trước tình thế đó, Ban giám hiệu nhà trường quyết định phân tán các lớp học đến vùng lân cận. Biên chế các lớp cũng được tổ chức lại, phù hợp với khu vực địa lý. Chúng tôi lại dựng xây lớp học, nhưng lần này lớp được đắp lũy bao quanh và làm thêm các hầm chữ A (kiểu Triều tiên) để tránh bom. Lũy được đắp cao ngang mái nhà và được lát cỏ như triền đê ven sông. Học sinh đi học với hình ảnh khái quát “mang mũ rơm đi học đường dài”.
Bước sang lớp 10, chúng tôi trở lại khuôn viên trường cũ, xây dựng lại lớp học. Vẫn nhà tranh vách đất, nhưng đã khang trang hơn, các lớp bố trí thành từng dãy quy củ. Vách ngăn giữa các lớp có những lỗ thủng nhỏ không biết ai đã khoét. Cô giáo Ngô Mai Sừ có lần phát hoảng khi nhìn vào hai lỗ thủng gần nhau và thấy hai con mắt mở to, tròn, đen đang nhìn thao láo...
Đã có thể tổ chức các sự kiện đông người mà không sợ máy bay Mỹ ném bom. Một trong những sự kiện đó là diễn đàn văn học về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu do thầy và trò khối 10 cùng thực hiện. Đêm lung linh dưới ánh sáng của ngọn đèn măng xông, nổi bật trên nền phông xanh là câu thơ “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Dàn âm thanh là chiếc đài bán dẫn LIDO có chức năng thu phát. Tôi được thầy giáo Chế Đình Khôi hướng dẫn viết bài tham luận với chủ đề “Tính chiến đấu trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu”. Tôi đã đọc say sưa bài tham luận của mình, đến nỗi đặt cả tập bản thảo che kín màng loa thu của chiếc LIDO. Đó thực sự là một buổi ngoại khóa đầy thi vị.
Cuối năm lớp 10, chúng tôi tiễn một số bạn lên đường nhập ngũ. Những người ở lại tiếp tục việc học của mình. Để chuẩn bị thi tốt nghiệp, nhà trường đã tổ chức cho học sinh ôn tại trường cả buổi chiều và buổi tối. Đêm đêm, bên ngọn đèn dầu, thao thức cùng chúng tôi là các thầy giáo, cô giáo.
Hè 1974, khi tiếng ve râm ran thôi thúc và hoa phượng cháy đỏ khát khao cũng là lúc chúng tôi phải chia tay mái trường thân yêu với biết bao kỷ niệm buồn vui tuổi học trò để tỏa đi muôn phương.
Ba năm học với ba lần di chuyển địa điểm, cũng là ba lần xây dựng lớp học, chúng tôi đã hoàn thành khóa học trong sự cưu mang, đùm bọc, chở che của đồng bào Nghi Trung và vùng lân cận. Tình nghĩa này thật sâu đậm, công ơn đó khó nhạt phai.  
Những chỗ trống của lớp 10D
Năm 1981, Tôi gặp lại bạn Lê Đình Bình (Nghi Trường) ở Trường sĩ quan Tăng Thiết giáp. Khi đó, Tôi là giáo viên của nhà trường, còn Bình là học viên lớp đào tạo cán bộ chính trị. Thời gian học ở trường, Bình xây dựng gia đình. Chiếc màn cưới của vợ chồng Bình được ghép nối từ 2 chiếc màn tuyn cá nhân của Bình và Tôi. Nào ngờ đó là kỷ niệm cuối cùng của Tôi và Bình. Sau khi ra trường, Bình làm nhiệm vụ quốc tế và hy sinh ở chiến trường Cămpuchia. Trong một lần hành quân, xe tăng của chính trị viên Lê Đình Bình khóa đuôi đội hình bị trúng đạn B40 của tàn quân Pôn Pôt.
Bạn Trần Hồng (Nguyễn Hồng, Nghi Hải), lớp 9 học sơ tán ở Hòa Bình trở về, vào học lớp 10D. Năm đó, Tôi và Huệ trọ ở nhà ông bà Cảnh (Nghi Thịnh), còn Trần Hồng - Mai Hồng - Võ Hồng trọ nhà ông bà Lục kế bên. Tôi và Trần Hồng cùng học lớp D nên gần nhau hơn. Một hôm, Tôi đang ngồi học bài thì Võ Hồng và Mai Hồng chạy sang, bảo rằng: Trần Hồng nó làm sao ấy. Tôi chạy ào qua, thấy Hồng nằm trên giường, làn da xanh mướt thì xót xa lắm. Tôi đang lo lắng chưa biết làm thế nào thì hai nàng kia đã cười đắc thắng. Thì ra, các nàng đã căng tấm nilon màu xanh lên cửa sổ và biến tôi thành chuột bạch để “xem thế nào”... còn Trần Hồng thì đang thiu thiu ngủ. Sau đó, Trần Hồng gia nhập lực lượng công an nhân dân và đã mãi mãi đi xa.
Bạn Trần Văn Sum (Nghi Hải) là một học trò tinh nghịch. Vào dịp ôn thi tập trung tại trường, một buổi chiều, cô Hạnh chủ nhiệm lớp bắt gặp lũ con trai chúng tôi đang chơi bóng chuyền. Cô không hài lòng và nhắc chúng tôi vào lớp để ôn bài. Lúc đó, Sum buông một câu dại khờ hết mức, làm cô giận lắm. Chúng tôi phải xin mãi cô mới bỏ qua. Tốt nghiệp cấp 3, Trần Văn Sum gia nhập lực lượng công an nhân dân và đã mãi mãi đi xa.
Không riêng gì lớp 10D của chúng tôi, theo thống kê của Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Trọng Bình tại Hội Khóa 30 năm, cả khóa 71-74 có gần 30 bạn (bộ đội và công an) đã mãi mãi đi xa, để lại những chỗ trống khó khỏa lấp trong lòng mọi người. Tôi viết những dòng này như nén tâm nhang tưởng nhớ các bạn đã mãi mãi tuổi hai mươi, mãi mãi là học sinh khóa 71-74  C3-NL1.
Hai trò và hai cô
Hồi đó, cô giáo Nguyễn Hồng Hạnh chủ nhiệm lớp 10D của Tôi và cô giáo Ngô Mai Sừ chủ nhiệm lớp 10C của Huệ hãy còn tre trẻ. Hai cô nội trú trong trường và ở hai phòng cạnh nhau. Lớp 10D của Tôi liền kề lớp 10C của Huệ. Cô Hạnh và cô Sừ thường cùng đi với nhau. Tôi và Huệ ở cùng nhà trọ, luôn bên nhau trên những nẻo đường. Hai cô quý chúng tôi lắm và chúng tôi cũng rất quý hai cô. Nếu chỉ thấy cô Hạnh là chúng tôi hỏi thăm cô Sừ và ngược lại.
Kỷ niệm về hai cô và hai trò chúng tôi thì nhiều lắm. Tuy nhiên, những kỷ niệm mà Tôi kể ra đây không phải là đặc biệt, nó bình thường, giản dị và quen thuộc quá. Có lẽ, những kỷ niệm đó cũng hao hao như kỷ niệm của các bạn với thầy cô giáo của mình. Sự quan tâm của các thầy cô giáo đối với học trò nó bình dị như cơm ăn, nước uống hàng ngày mà ta cứ hồn nhiên tiếp nhận. Chỉ khi xa nó rồi, ta mới nhận ra rằng đó thực sự là một phần rất quan trọng và cần thiết của cuộc dời này.
Những kỷ niệm của một thời và mãi mãi
Một buổi chiều, sau giờ lao động khá mệt nhọc, cô Hạnh thông báo sẽ chiêu đãi chúng tôi nước chanh đường. Cô Sừ vỗ tay tán thưởng. Chúng tôi theo hai cô về phòng nội trú. Trong khi cô Hạnh đang lúi húi lấy chanh, đường... thì cô Sừ hỏi: “Hai đứa có biết cho bao nhiêu đường thì vừa không?”. “Thưa cô! Cứ cho đường thêm vào và khuấy cho đến khi hạt chanh nổi lên thì được ạ”- Tôi láu táu trả lời, ngầm thể hiện kiến thức với cô giáo dạy vật lý. Cô Hạnh thấy trò yêu của mình trả lời nhanh thì gật đầu khích lệ. Tuy nhiên, cô Sừ chỉ mỉm cười và nói: “Để rồi xem”. Nói xong, cô hướng dẫn Huệ cắt chanh và vắt vào cốc trước tiên, sau đó chế nước nguội và cho đường sau cùng. Cô dặn Huệ khi khuấy nước không được chạm thìa vào hạt chanh. Tôi quan sát và rất ngạc nhiên khi thấy hạt chanh không hề nổi lên, mặc dù lọ đường của cô Hạnh đã vơi đi khá nhiều. Chúng tôi uống cốc nước chanh ngọt lịm, sung sướng, lại còn cho thêm nước vào để khuấy cho tan hết lượng đường còn lại và uống hết. Tôi đem thắc mắc của mình hỏi cô Sừ, cô tủm tỉm cười và nói: “Cô chỉ muốn cho hai đứa bây uống thêm nhiều đường của cô Hạnh”. Thì ra, hạt chanh có nhựa đã dính vào đáy cốc nên không tuân theo quy luật “nhẹ nổi - nặng chìm”. Tôi đã biết một mà không biết hai trong câu trả lời của mình.
Tôi nhớ mãi một đêm bình lặng của mùa ôn thi tốt nghiệp năm ấy, tại phòng học lớp 10D thân yêu, tôi đang viết thứ cho cô bạn gái đã chuyển về học ở Vinh. Tôi “tập trung vào chuyên môn” lắm nên không để ý gì đến xung quanh. Mãi đến khi cảm nhận có ai đó đang ở sau lưng, Tôi ngoảnh lại thì ôi thôi... cô Hạnh và cô Sừ! Bị bắt quả tang, Tôi cứ lúng ta lúng túng, sợ bị cô mắng. Thực ra thì Tôi cũng chỉ viết thư động viên cô bạn đang buồn vì chuyện gia đình, không có gì là “nghiêm trọng” cả. Nhưng, thư đi thư lại cũng ngốn khá nhiều thời gian. Đang loay hoay chưa biết làm gì thì Tôi bị cô Sừ cốc cho một cái vào đầu và mắng: “quỷ sứ”. Rồi hai cô nhắc nhở “ngày thi tốt nghiệp cận kề rồi”. Hai cô đã đi sang nhóm học khác, còn tôi thì ngồi lại xoa đầu. Cái cốc của cô có hơi đau một tý nhưng Tôi lại thấy rất hạnh phúc. Tôi lườm sang bàn bên, có tiếng cười khúc khích và câu nói bâng quơ: “Cho đáng đời”. Bây giờ, mỗi lần nhớ lại, Tôi vẫn ao ước thêm một lần được cô cốc vào đầu và mắng yêu: “quỷ sứ”.  
  
Những mẩu chuyện của thầy Phan Đăng Bạt
Thầy Bạt của chúng tôi có đôi mắt rất sáng, nghiêm nghị và nhân hậu.
Ngay giờ học lịch sử đầu tiên ở lớp 8, thầy ra yêu cầu: “Các em hãy định nghĩa về môn lịch sử”. Một vài cánh tay rụt rè giơ lên. Thầy chú ý nghe từng người, rồi thầy phân tích ý đúng, ý chưa đúng và gợi ý cho người phát biểu tiếp theo. Cuối cùng thì thầy trò chúng tôi cùng thống nhất một định nghĩa mà Tôi còn nhớ đến bây giờ: “Lịch sử là bộ môn khoa học, nghiên cứu quy luật phát sinh và phát triển của xã hội loài người”. Thầy gạch chân các từ “khoa học”, “quy luật”, “phát sinh”, “phát triển”, “xã hội” và giảng giải cặn kẽ. Rồi thầy nêu đối tượng nghiên cứu, nội dung môn học... Cứ thế, chúng tôi được thầy dẫn dắt đi vào môn học lịch sử một cách nhẹ nhàng, sống động và thích thú.
Có một lần, thầy đố cả lớp: “Chỉ với hai từ, các em hãy nêu bản chất của chủ nghĩa tư bản”. Không khí lớp học sôi nổi hẳn lên. Đã quen với giờ học của thầy nên rất nhiều bạn mạnh dạn phát biểu. “Bóc lột”, “tiền của”, “dã man”, “tàn bạo”... là những câu trả lời. Nhưng sau mỗi câu trả lời đó, thầy đều lắc đầu. Cuối cùng, chúng tôi đề nghị thầy cho đáp án. Thật bất ngờ: “Của riêng!”. Thầy giảng giải rất cặn kẽ ý nghĩa của từ này, cả mặt tích cực và mặt tiêu cực của nó. Buổi học hôm ấy, chúng tôi đã có một trắc nghiệm lý thú về việc gọi đúng tên, bản chất của sự vật, hiện tượng.
Một lần khác, thây nêu câu hỏi: “Con gì buổi sáng đi bốn chân, buổi trưa đi hai chân, buổi chiều đi ba chân?”. Chúng tôi đã quen với những câu hỏi của thầy và sốt sắng tìm câu trả lời. Tuy nhiên, Những cái đầu non nớt của chúng tôi không tìm được đáp án đúng. Thầy gợi ý: “Sáng, chiều, tối theo nghĩa thông thường bị bó hẹp trong một ngày 24 giờ. Để trả lời câu hỏi này, các em cần mở rộng khái niệm thời gian. Chẳng hạn, sáng, chiều, tối của một vòng đời”. Sau lời gợi ý của thầy, nhiều cách tay giơ cao và đã trả lời đúng đáp án. Chúng tôi sung sướng vỗ tay hoan hô thầy và hoan hô chính mình. Nhưng điều thú vị không dừng ở đó. Thầy đã dạy cho chúng tôi thêm được một lối tư duy khi giải quyết một vấn đề đặt ra.
 Tôi rất ấn tượng khi nghe thầy Phan Đăng Bạt thuật lại đoạn đối thoại giữa thầy và một bác nông dân đang phơi lúa trên đường quốc lộ 1A. Thầy hỏi: “Thưa bác! Bác có biết cái sân này dài bao nhiêu không”. Bác nông dân đáp: “Tôi không biết. Vậy, theo thầy nó dài bao nhiêu?”. Thầy nói: “Tôi cũng không nhớ chính xác là bao nhiêu. Nhưng tôi biết nó dài từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau”. Bác nông dân: “Tôi biết rồi. Thầy phê bình tôi phơi lúa trên đường quốc lộ”. Kể đoạn hội thoại này, thầy muốn nói với chúng tôi rằng: “Phải hiểu đúng khái niệm. Nếu hiểu không đúng thì sẽ dẫn đến cách hành xử sai. Trong trường hợp trên, bác nông dân còn thêm hành vi vi phạm pháp luật”.
Những câu chuyện của thầy Phan Đăng Bạt thì nhiều lắm. Mỗi chuyện là một thông điệp của thầy gửi đến học sinh thân yêu. Những kiến thức lịch sử trong bài giảng của thầy, theo thời gian, có thể rơi rụng, nhưng những chuyện kể của thầy thì còn mãi trong Tôi.
Khóa học 71-74 C3-NL1 của chúng ta thật may mắn được học với thế hệ các thầy giáo, cô giáo vừa giỏi chuyên môn, vừa giàu tấm lòng vị tha của người mẹ hiền.
Tình bạn và tình yêu
Trong một dịp vui vẻ, một nữ sinh viên Học viện Kỹ thuật quân sự đã tấn công Tôi bằng câu hỏi: “Thưa thầy! Hồi học phổ thông thầy đã yêu chưa ạ?”. Tôi nói: “Tôi sẽ kể cho các em nghe những sự kiện hồi Tôi học C3-NL1 để các em nhận định xem đó có phải là yêu”. Nghe Tôi nói vậy, các em háo hức lắm. Và Tôi đã kể lại những sự kiện đã xảy ra ở mùa phượng cháy 1974.
Sự kiện thứ nhất
Hồi đó, các lán học của Trường C3-NL1 đêm đêm vẫn sáng ánh đèn dầu của học trò năm cuối cấp chúng tôi. Một buổi tối, khi Tôi đang chăm chú “dùi mài kinh sử” thì hai bạn gái trong top 5 của chúng tôi xuất hiện. Một bàn tay chìa ra, trên đó là một gói bánh vê (thứ bánh quy có rắc đường bên ngoài và được bán ở Cửa hàng bánh kẹo quốc doanh Quán Hành) và một mệnh lệnh rất rõ ràng: “Ăn đi để lấy sức mà học”. Khỏi phải nói, Tôi đã phấn chấn như thế nào. Tôi vô tư nhận quà và hồn nhiên ăn bánh vê một cách ngon lành, còn hai bạn gái thì líu ríu kể chuyện. Một sự “tiếp sức mùa thi” rất hiệu quả của kỳ ôn thi tốt nghiệp phổ thông năm ấy. Những sự quan tâm lẫn nhau giữa bạn bè chúng tôi vẫn thường xảy ra, thành thử những người trong cuộc không thấy gì đặc biệt cả. Chỉ sau này, mỗi khi nhớ lại và suy ngẫm thì mới rõ ra được tính chất đặc biệt của nó. Đó là nguồn lực tinh thần to lớn.
Sự kiện thứ hai
Có một chiều trong vắt sau cơn mưa, cô bạn thân đến sau lưng và nhờ Tôi giảng hộ một bài toán. Tôi hăm hở, vừa viết vừa giảng giải, không để ý gì khác. Cho đến khi kết thúc bài giải thì Tôi cảm nhận được độ nóng ở gáy và vai phải. Tôi né đầu quay lại. Vẫn mái tóc xoăn, khuôn mặt trái xoan, sống mũi dọc dừa, đôi môi quả tim quen thuộc, nhưng sao ánh mắt hôm nay lạ thế. Một thoáng bối rối, Tôi nói: “Nhìn gì mà khiếp thế! Có hiểu bài không”. Cô bạn gật đầu và nén tiếng thở dài. Đó có thể là một dấu thăng hiếm hoi trong giai điệu bạn bè của chúng tôi. Sau này, cô bạn tóc xoăn đã trở thành giảng viên của trường cao đẳng sư phạm.
Tôi vừa dừng kể thì nữ sinh viên lúc nãy hỏi luôn: “Thế, Thầy có hôn cô tóc xoăn không?”. Tiếng cười râm ran. Tôi nói: “ Các em tính xem, chúng tôi học hệ 10 năm, lớp 10 chưa tròn 17 tuổi. Lúc đó, đất nước còn chiến tranh. Quan hệ nam nữ còn phong kiến lắm. Đôi nào cầm tay nhau coi như chốt hạ rồi”.
Vẫn không tha, Tôi lại bị tấn công tiếp: “Đề nghị Thầy tập trung vào chuyên môn. Thầy có hôn cô tóc xoăn không”. “Không!”. “Thế còn hai cô bạn top 5 của thầy thì sao ạ?”. “Họ học khác lớp, nhưng chúng tôi chơi thân với nhau. Một cô sau này là nhà quản lý, một cô là nhà giáo”. “Thế, có ai hiện nay là phu nhân của thầy không ạ?”. Tôi lắc đầu và nhận được phán quyết: “Thầy không biết yêu. What a pity!”.
Nhưng, một sinh viên khác lại nói: “Nghe Thầy kể về các bạn gái với tình cảm trân trọng như vây, em nghĩ là Thầy ... đã yêu”.
Mọi người vỗ tay tán thưởng và kết thúc chủ đề thảo luận.
Giá như Tôi còn thời gian để kể về các bạn trai của mình!
Tôi đã yêu tất cả các bạn. Thời gian trôi qua, mái tóc đã pha sương, nhưng hình ảnh thân thương và sự quan tâm cảm động, vô tư của các bạn thì còn mãi vẹn nguyên trong Tôi. Vẫn còn đó sự tiếc nuối và niềm ước ao được trở về mùa phượng cháy năm xưa...  
Lời kết:
Một bạn cùng khóa có đề nghị tôi viết bài khái quát chặng đường 43 năm trưởng thành của khóa ta cho con cháu biết và tự hào. Tôi thực sự choáng với đề ghị đó, vì tôi không có đủ thông tin của tất cả các bạn. Hơn nữa, mỗi người trong chúng ta đều có chặng đường 43 năm của mình. Chúng ta cũng đã nhìn vào đó và nhìn ra xung quanh để khái quát và ngẫm nghĩ. Vậy, có cần thiết phải khái quát chặng đường 43 năm của toàn khóa không? Thôi thì cứ để mọi chuyện “hữu xạ tự nhiên hương”, mỗi người tự cảm nhận lấy những điều mình tâm đắc.
Tôi đã hơn một lần được nghe rằng “Khóa 71-74 C3-NL1 rất thành đạt. Có nhiều người là cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước ở trung ương và địa phương. Có nhiều người là cán bộ cao cấp, tướng lĩnh, sĩ quan trong quân đội và công an. Có nhiều người là nhà khoa học, cán bộ giảng dạy ở các học viện, trường đại học. Có nhiều người là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo, nhà báo, nhà quản lý, doanh nhân...”
Nếu như thế là thành đạt thì các khóa khác của C3-NL1 cũng rất thành đạt.
Điều mà tôi tâm đắc nhất là khóa 71-74 C3-NL1 có nhiều bạn không chỉ có ý tưởng hay mà còn hành động vô tư, trong sáng, nhiệt tình, thiết thực, có hiệu quả để tập hợp toàn khóa lại sau mấy mươi năm tỏa ra muôn phương bôn ba với cuộc sống. Đặc biệt, còn kéo được một số bạn ra khỏi mặc cảm, tự ti để về bên nhau mừng mừng tủi tủi, thắm tình bạn bè, nặng nghĩa thầy cô. Tuy có một vài con sâu, nhưng có thể nói một cách đầy tự hào rằng khóa 71-74 C3-NL1 đã thành công.
Xin mãi mãi trân trọng tình bạn của khóa 71-74 C3-NL1.
                                                Hà Nội, hè 2014.
                                                

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin mới gửi

Đăng ký thành viên

Thăm dò ý kiến

Theo bạn website này:

Giao diện đẹp, bố trí hợp lý

Mọi thứ tạm ổn

Cần bổ sung chức năng diễn đàn

Cũng bình thường

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 8


Hôm nayHôm nay : 11856

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 245390

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6443629