Doanh nghiệp giới thiệu

Tổng Công ty 36
Công ty Nano
Áp lực Đông Anh
An Phát
Công ty Sigma Việt Nam
Công ty Cổ phần thiết bị giáo dục và Khoa học kỹ thuật Ngân Hà

Liên kết website

Nghi Lộc 1
Khóa 70-73
Du lịch Cửa Lò
Vũ Đăng Hiến
Nguyên Hùng
Lê An Tuyên

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức - Sự kiện

Đăng bài viết

Về thăm thầy

Thứ ba - 30/07/2013 06:36


Hơn bốn mươi năm xa quê, hôm nay tôi mới về thăm thầy Nguyễn Trọng Bình, người Thầy hiệu trưởng kính trọng nhất của tôi, cũng như tất cả những ai đã một thời là học sinh của Thầy ở  trường phổ thông cấp 3 Nghi Lộc 1. Lẽ ra tôi đến nhà Thầy từ sáng sớm, nhưng mấy công việc còn dang dở ở quê níu chân tôi lại. Phải đến hơn mười một giờ trưa, tôi mới dứt ra được để tìm đường về với Thầy. Thôi cứ cho là bữa trưa này mình nhịn đi, nhưng sẽ không phá vỡ  nhiều giấc ngủ của Thầy.

Trên đường từ xã Nghi Thịnh đến xã Nghi Trung nơi Thầy ở, tôi dừng xe máy giữa Cồn Vàng để điện thoại nhờ thầy Nguyễn Xuân Nguyên chỉ dẫn.
- Từ Cồn Vàng em đi theo đường về Quán Hành. Qua bệnh viện của huyện độ sáu, bảy trăm mét có một con đường nhựa rẽ bên trái, em đi thẳng sẽ gặp nơi trường mình đóng đô ngày xưa…  - Thầy nói qua điện thoại với tôi.

Đại biểu học sinh K70 - 73 thăm thầy Nguyễn Trọng Bình nhân kỷ niệm 40 năm ngày ra trường

          Tôi cảm ơn Thầy và vội vàng lên xe tìm đường theo chỉ dẫn. Vù vù phóng xe dọc theo con đường nhựa làng Nam,  tôi cứ tâm niệm được gặp thầy hiệu trưởng Nguyễn Trọng Bình càng sớm càng tốt. Nhưng phía trước tôi có gì đấy quen quen đang hiện rõ dần.  Đúng rồi! Kia là con đường đất từ xã Nghi Trường cắt qua con đường tôi đang đi, đến chiếc cầu đá để sang bên kia khu trường mà chúng tôi đã học. Con đường thân quen đã một thời in mòn dấu chân bé nhỏ của chúng tôi.
          Tôi rẽ phải để đi qua cầu. Nơi đây có một đơn vị xây dựng đang đào móng đổ trụ bê tông để xây lại con cầu mới hiện đại và to hơn. Biết là vậy, nhưng chiếc cầu đá năm xưa vẫn in rõ mồn một ở trong tôi.
 Đâu rồi? Mùa lũ năm nào về đã nuốt trọn hết con đường và chiếc cầu này. Một biển nước mêng mông, sóng cuộn ào ào trắng xóa. Mặt cầu cao như vậy mà nước tràn qua đến cả tiếng đồng hồ mà vẫn không chịu rút. Nước ngập trắng khắp nơi chặn đứng bọn trẻ chúng tôi từ các ngả đường  đổ dồn lại túm tụm với nhau. Để rồi phải thảng thốt, bất lực, hoảng sợ và lo lắng. Chỉ còn biết đứng nhìn sang bên kia trường với bao niềm tiếc nuối trào dâng.   
Tiếng trống điểm vào giờ học đã vọng sang, càng thôi thúc chúng tôi liều mình sang bên ấy. Nhưng sang bên đó bằng cách nào đây? Lội bộ ư? Nước ngập ít nhất cũng đến bụng. Sang được bên ấy rồi mà cứ khoác cả bộ áo quần sũng nước như thế này vào lớp được chăng?  Để cho nó chảy tong tong ra ghế ra nền nhà à?
          Đâu đây đã có tiếng tiếng con gái thút thít khóc. Thật ra không phải chỉ một  bạn. Mà hầu hết các bạn gái tái mét mặt mày vì sợ hãi, mắt đỏ hoe đẫm nước. Nhưng vẫn đau đáu hướng nhìn về bên kia trường.
Chỉ có lũ con trai chúng tôi là vô tư trêu chọc nhau, chẳng biết sợ là gì. Giá như không có lũ con gái thì cánh này coi đây là chuyện vặt. Chúng tôi chỉ cần cởi hết quần áo rồi đội lên đầu cùng sách vở, lẹ làng vượt qua con nước là xong.
Mà ở đời thường vào lúc gặp “cái khó lại ló cái hay hay….” Thôi! Bọn con trai chúng tôi đành phải hy sinh vậy. “ Các bà khỏi phải lo mất buổi học hôm nay nhé. Cánh này sẽ cõng các bà lội sang bên đó. Sướng chưa? Nhưng các bà phải giữ quần… sách vở cho chúng tôi thật khô. Có đồng ý không? Nếu còn chần chừ thì bọn này thay đổi ý kiến đấy!” (Thật là hú vía cho cánh con trai chúng tôi vào ngày hôm ấy. Đứa nào đứa nấy cũng có quần đùi bên trong).
Tôi phóng chiếc xe máy vượt qua bên kia cầu một đoạn thì rẽ trái theo con đường đất thoai thoải dốc. Phía trên cao xa xa kia là khu trường cũ mà ngày xưa thầy trò chúng tôi đã dựng lên. Men theo con đường này tôi bắt gặp nhiều điều mới lạ, trộn lẫn với những điều gì đó quen quen in đậm ký ức trong tôi của một thời không thể nào quên được.
Chạy dài theo phía bên trái tôi ngày xưa nơi đây chủ yếu là những gồ đất lổn nhổn mọc đầy những bụi cây gai, cây hoa mua kéo sâu đến sát mép ruộng. Còn mép đường bên phải có những bụi tre vàng khô già cỗi, xen lẫn với những cụm lớn cây gai và dây leo quấn chặt lấy nhau lá xanh phủ um tùm, như biểu tượng của một tình yêu đời đời vững bền, thủy chung son sắt, dẫu có chết vẫn không xa lìa nhau được. Nơi đây có gì đấy còn hoang sơ và một chút gì ma quái sờ sợ. Cái sợ mà đến những đứa to gan nhất trong bọn trẻ chúng tôi cũng không dám ở lâu trong đó.
Giờ đây tôi đang đứng trước trước một rừng cây màu xanh đầy sức sống của những cây ăn quả, cây cổ thụ xen lẫn nhau. Những tán lá xanh xanh tầng tầng, lớp lớp ken dày kín mít, đang vươn mình xòe rộng ra, chắn che cái nắng nóng như lửa đốt cho những ngôi nhà và chủ nhân của nó.
Tạt vào gõ cửa một gia đình bên cạnh, tôi gặp ngay một người đàn ông, tuổi tầm gần năm mươi. Vừa mới nghe đến tên thầy Nguyễn Trọng Bình, anh đã niềm nở chỉ dẫn ngay cho tôi:
- Anh nhìn thấy vườn cây um tùm cao vượt trội ở bên bờ bên kia không? Của nhà thầy Bình đấy…
Phía bên kia nơi đấy vào khoảng tháng ba, tháng tư  của năm sáu tám. Khối tám chúng tôi gồm bốn lớp 8A, 8B, 8C, 8D đã từng hứng chịu một loạt bom của máy bay Mỹ ném xuống. Hôm ấy, lớp 8B của tôi đang vào những giây phút cuối cùng của giờ học tiếng Trung. Đúng ra trước đó mấy phút chúng tôi đã được ra ngoài nghỉ rồi. Nhưng thầy Phước (giáo viên Trung văn) vẫn còn say mê giảng giải ý nghĩa sâu xa một từ vựng nào đó, nên vô tình đã giữ chân chúng tôi nán lại trong lớp. Bất ngờ tiếng gầm rú ầm ầm của máy bay Mỹ ở đâu lao tới. Tiếng rin rít, hun hút của bom rơi ở trên đầu. Nghe sắc lạnh đến ghê người. Rồi mấy tiếng ục ục xuất hiện ngay sau đó. Giật mặt đất rung lắc lư. Cả không gian bỗng tối sầm lại, bịt kín hết mắt chúng tôi. Khi những tiếng nổ ù tai nhức óc chưa dứt, mọi người trong lớp tôi đã nằm úp sát sạt xuống nền đất rồi.
Tôi ngồi ở đầu bàn dãy thứ hai. Lúc vừa trấn tĩnh lại, mới biết trên người mình có mấy người đè chồng lên. Nhưng chưa kịp la lên về sức nặng quá sức này, thì nó đã biến mất khỏi tôi tự lúc nào. Trước tôi một dãy bàn, thầy Phước cũng đang khom người nằm xuống. Bất ngờ, một mảnh bom bay xẹt từ trên cao cắt thủng mái tranh, cắm phập xuống đất ngay trước mặt thầy. Sửng sốt và hoảng sợ. Tất cả chúng tôi lịm đi…
Những tảng bùn đất to nhỏ thi nhau rơi bình bịch xuống mái lớp, xuống đầu thầy trò chúng tôi một lúc. Rồi cát bụi tan dần… Những mảng nắng dần sáng đến chói chang, loang lố trên người chúng tôi, xuống mặt đất, lên mặt ghế, mặt bàn. Trên cao, mái tranh lỗ chỗ thủng từng mảng nhìn rõ được trời xanh.
Chúng tôi đã nhìn thấy được nhau qua những gương mặt đen đen lem nhem khói bụi. Đột nhiên, những đứa trẻ lại hoảng loạn, khiếp sợ khóc thét lên. Trước mắt chúng tôi một mảnh kim loại dầy, to hơn con dao phay màu xám xịt, nham nhở, lổn nhổn những răng sắc nhọn viền quanh, lù lù cắm sâu trên nền lớp giữa lối đi, sát sạt với thầy Phước, đang xèo xèo bốc khói.
 Khi mọi thứ gần như được trấn tĩnh, thầy trò chúng tôi mới cảm nhận được cái may mắn thoát chết trong gang tấc vừa hiền hiện trải qua. Phải chăng, đây là món quà tuyệt vời nhất của thượng đế đã dành ban tặng riêng cho tất cả thầy trò chúng tôi được tái sinh thêm lần nữa. Nếu như mọi người không ra ngoài muộn hơn một vài phút. Nếu như  không có ụ đất đắp cao đến sát mái tranh bao quanh lớp học đỡ hết những mảnh bom. Nếu như mảnh bom đang nằm đó không cắm vào khoảng trống …???
 Tôi lại lên xe máy chạy chầm chậm theo con đường đất này để vòng sang bên kia đến nhà Thầy. Ừ đúng rồi! Khoảng đất trống này là sân khấu phục vụ cho Hội diễn văn nghệ củả thầy và trò các trường phổ thông cấp 3 tỉnh Nghệ An, về thi tài vào đầu năm học 1969. Nhằm chào mừng ngày hòa bình không còn tiếng đạn bom trên miền Bắc nước ta. Đặc biệt là mừng ngày chúng tôi được trở về học trên mảnh đất cũ thân yêu quê mình Nghi Lộc. Không còn ở vùng rừng núi Nghĩa Đàn đầy khó khăn gian khổ nữa.
Tôi còn nhớ lớp của tôi có tham gia mấy tiết mục văn nghệ. Nhưng ấn tượng nhất trong đêm diễn là Hoàng Văn Thắng bạn tôi. Anh vào vai trung úy sĩ quan quân đội Việt nam Cộng hòa của một vở kịch. Có lẽ mọi chuyện sẽ diễn ra bình thường, nếu như anh không dùng súng thật để bắn trên sân khấu. (Theo anh nghĩ dùng súng thật mới tăng độ chân thực và hấp dẫn của vở kịch) Khấu súng này Thắng mượn trộm của bố là sĩ quan quân đội đang nghỉ phép ở nhà.
Vở kịch đang đến đoạn cao trào, bất ngờ Thắng giương súng lên về phía bạn diễn bóp cò. Một tiếng nổ đanh gọn vang lên trên sân khấu. Lửa tóe dài ra trước nòng súng. Khói bụi, đất cát bay mù. Cả một biển người đang  chăm chú theo dõi, bất ngờ hoảng loạn. Nguy cơ xô đẩy nhau bỏ chạy tán loạn đang bùng phát. Đã có tiếng la hét vang lên. Nhưng các thầy đã kịp thời trấn an ổn định trật tự cho mọi người. Rất may, sau tiếng súng, các diễn viên trên sân khấu vẫn đang còn nguyên vẹn. (Thực ra trước đó Thắng đã tập thành thục động tác chĩa súng xuống đất bóp cò) Vở diễn bị lộn xộn đứt đoạn một lúc rồi lại tiếp tục cho đến hết.
Nhưng cũng chỉ mấy tháng sau đó. Hoàng Văn Thắng lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Và anh đã anh dũng hy sinh  trên chiến trường xa trong một trận đánh ác liệt với quân địch. Anh cũng như bao bạn bè tôi đã tạm biệt mái trường cấp 3 Nghi Lộc 1 thân yêu để ra chiến trận, rồi nằm lại nơi xa mãi mãi không về.
Theo con đường đất này, tôi chầm chậm đi tiếp rồi dừng lại ngắm và xác định vị trí các lớp học tranh tre ngày xưa. Mắt tôi nhòa đi. Tâm trí như đang lạc vào một thế giới khác. Đây rồi, những mái nhà tranh tre làm lớp học kéo dài, xếp song song với nhau theo từng dãy một. Thành quả của thầy trò chúng tôi sau một năm phải sơ tán lên nông trường Đông Hiếu, Nghĩa Đàn vừa trở về xây dựng nên.
Kia là dãy nhà khối 10, và kia nữa là các dãy nhà khối 9, khối 8. Còn phía sâu sâu hơn một chút là các dãy nhà của các thầy cô cũng như của Ban giám hiệu trường mình. Còn đây là lớp học của tôi. Nơi mà tôi cùng với các bạn Trần Ngọc Nam, Hoàng Văn Sửu… nhận được giấy báo lên đường nhập ngũ. Sáng ngày mai chúng tôi thực sự xa các bạn thân, xa các thầy cô, xa mái trường cấp 3 Nghi Lộc 1 thân yêu lên đường nhập ngũ. Chúng tôi biết đây là buổi học cuối cùng của mình. Chính vào những thời khắc này, sự nuối tiếc được học nữa trong chúng tôi càng trỗi dậy. Có lúc tưởng như không kìm nổi.
Buổi học cuối cùng này thực sự đã đi theo suốt cuộc đời chúng tôi. Đó là giờ chữa bài tập toán của thầy Dương Xuân Trãi. Bài toán giải phương trình hôm ấy rất khó. Thầy kêu gọi học sinh xung phong chữa bài. Tôi và Nam cùng một vài bạn nữa nhanh chóng giơ tay. Nam được Thầy gọi đầu tiên. Bài toán giải một đoạn thì cậu ta dừng lại ở giữa chừng. Tôi được Thầy gọi lên thay Nam giải tiếp. Chỉ sau một thời gian không nhiều, tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và nhận được lời khen của Thầy.
Thực ra ở buổi học hôm ấy, các bạn trong lớp đang dành hết những tình cảm tốt đẹp nhất cho mấy đứa chúng tôi. Đâu đó bên tai tôi có bạn nào đã thốt lên: “Phục các bạn quá. Ngày mai nhập ngũ rồi mà vẫn giải được những bài toán quá khó và hóc búa như thế này”.
 Buổi học vừa kết thúc. Tất cả như vỡ òa ra. Mọi người ào ào vây quanh mấy đứa chúng tôi để tranh nhau viết về những cảm xúc, những tình cảm mộc mạc, chân thành nhất của mình vào sổ lưu niệm cho từng đứa một. Rồi bắt tay nhau. Đùa đùa, tếu tếu để gây cười động viên nhau. Nhưng mắt đứa nào cũng đỏ hoe ướt đẫm nước trong phút giây tiễn biệt. Nước mắt của tình bạn đồng môn, đồng lứa, tình người ở lại và người ra chiến trường. Chúng tôi níu chặt lấy nhau, dùng dằng mãi mà không tách rời ra được.
Lên đường nhập ngũ cùng tôi trong dịp ấy còn có các bạn của trường ta: Trần Ngọc Nam, Trần Văn Hồng, Nguyễn Văn Quế, Hoàng Văn Sửu, Nguyễn Gia Thìn. Thế mà sau chiến tranh chỉ còn lại tôi và Hoàng Văn Sửu may mắn được sót sổ trở về với thân thể chẳng còn vẹn nguyên. Còn các bạn khác đã mãi mãi không về…
Giờ đây một mình tôi đang đứng nơi của học buổi cuối cùng ngày ấy. Nơi mà chúng tôi chia tay bạn bè và thầy cô để lên đường ra tuyến lửa. Có thật cuộc đời này quá đơn giản như vậy chăng? Có thật đấy là buổi học cuối cùng của các bạn tôi ở trên đời này không? Tôi vẫn nhớ những lời tiếc nuối của Nam, khi chúng tôi vừa đặt chân đến chiến trường miền Đông Nam bộ: “Minh này. Lẽ ra bài toán hôm đấy mình đã tìm ra nghiệm rồi. Mình sơ ý đã nhầm dấu dương sang dấu âm, để rồi phải tắc tị đầu hàng. Nếu như được làm lại…”. Và chỉ có mười tháng sau đó, Trần Ngọc Nam đã hy sinh anh dũng trên mảnh đất huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Đến nay hài cốt của anh vẫn chưa tìm được ở vị trí nào. Phải chăng, vì cái số dương sang âm mà Nam đã nhầm? Không! Không phải bạn tôi nhầm. Số phận đã đưa đẩy Nam nhầm như thế. Số dương và số âm ở hai miền cách biệt. Mãi mãi không bao giờ gặp nhau.
Nhớ lại những ngày tháng cùng nhau hành quân cuốc bộ, mang vác nặng ở trên dải Trường sơn. Tuy khó khăn, gian khổ, ác liệt luôn đeo bám chặt lấy chúng tôi không phút giây xa rời. Nhưng trong sâu thẳm của từng đứa vẫn dành riêng một vị trí đặc biệt cho Trường phổ thông cấp 3 Nghi Lộc1. Hễ có điều kiện gặp nhau, chúng tôi lại nhớ về những kỷ niệm đẹp của các thầy cô: “Thầy Bình hiệu trưởng tóc bạc sớm quá. Cái uy của Thầy làm đứa nào cũng sợ, nhưng rất tôn kính. Mà này, từ lúc vào học ở trường mình cho đến bây giờ. Qua các buổi khai giảng, bế giảng các năm học, hoặc là các buổi tổng kết khác. Thầy ấy toàn đọc vo không hề có một tờ giấy nào viết sẵn cả. Nhưng mà nội dung rất đầy đủ, câu cú thì khúc chiết. Thầy ấy nói một mạch mà chẳng vấp váp tý nào cả. Tài thật”. Đứa khác lại chen vào: “Mà thầy cô nào ở trường mình cũng hiền và nhiệt tình giảng dạy cho học sinh. Mà sao trường chúng mình lại có lắm cô giáo xinh thế. Này nhé! Cô Liễu dạy sinh, cô Hảo dạy hóa, cô Thao dạy sử… Mà thầy Đàm dạy sinh lại chuyển sang dạy hóa. Hình như thầy ấy có yêu cô gì gì ở xã Nghi Trung thì phải”. Đứa khác lại chêm vào: “Mình thích nhất thầy Nguyên dạy lý viết chữ “k” có cái móc vuốt tròn ngược chiều kim đồng hồ, đẩy lên rồi kéo xuống đánh móc của chữ “h” thạo thành chữ “kh” rất bay bướm. Còn cái móc của chữ “ơ” lại kéo từ dưới lên rồi vòng ngược... Rồi thầy Tý dạy văn, thầy Linh dạy toán, thầy Đô dạy lý, thầy Hân, thầy Phác …”
Tất nhiên về bạn bè trong lớp chả đứa nào quên được. Đấy là các bạn ; Trung, Minh, Hiến, Hiếu, Hoan, Giáp,…. Đặc biệt là các bạn gái: Lam, Quế, Thảo, Thanh, Hồng, Lan, Ngân, Thuận, Hoan, …
Nhắc đến các bạn gái bạn, bất chợt Nam hỏi tôi: “Này Minh. Nói thật với tớ nhé. Cậu đã có người yêu chưa?”. Như đỉa gặp vôi tôi trả lời ngay: “Đến cái cầm tay con gái mình cũng chưa dám, thì làm sao nói chuyện nói đến người yêu lúc này. Thế còn Nam thế nào?”. “Mình có hơn cậu một chút. Đấy là trước lúc tạm biệt bạn gái để lên đường. Mình đã liều mình hôn nhẹ vào má cô ta một cái. Đúng ra, trước đây mình có mấy cơ hội để thể hiện tình cảm với bạn ấy. Nhưng cái sờ sợ và xấu hổ trong mình nó lớn quá mà để nó tuột mất.
May mà mình còn vớt vát được một chút. Đấy là cái đêm cuối cùng để chia tay bạn ấy. Tranh thủ lúc chỉ còn hai đứa ở ngoài, mà trời lại rất tối, nên liều mình ôm bạn ấy vào lòng rồi hôn lên má. Tự nhiên có một vị mằn mặn đang lan tỏa vào trong miệng mình. Chưa kịp cảm nhận được vị mặn, bạn ấy đã quay người lại ôm chặt lấy mình rồi khóc bật lên thành tiếng. Sợ tiếng khóc to làm mọi người biết, mình đẩy nhẹ và lấy tay bịt miệng bạn ấy. Nhưng bây giờ nghĩ lại mà tiếc hùi hụi. Giá như cứ liều mình làm tới. Giá như…”
Tôi bỗng giật mình khi một chiếc xe máy của ai đó vù ga lướt qua bên cạnh. Tiếng xe nổ bành bành ghê người, chói tai đã thức tỉnh tôi về với thực tại. Tôi đang đứng trước một vùng đất rộng lớn xám xịt, cháy khét vì nắng và gió Tây nam. Cũng may còn có lưa thưa những cây phi lao cằn cỗi, sần sùi và già nua, làm dịu bớt đi cái nắng chói chang phần nào. Nhưng đảo mắt tìm mãi trong tất cả những đám cây đó, vẫn bói không ra một bóng râm nào để tôi tránh nắng.
Vượt được sang bên kia đường, tôi tìm đến nhà thầy Nguyễn Trọng Bình không khó. Bởi khu vườn cây cổ thụ um tùm nhất đang ở ngay trước mặt. Từ con đường trải nhựa đang đi, chỉ cần rẽ qua chiếc cổng nhỏ đơn sơ mấy bước. Một thế giới khác hiển hiện bao quanh tôi. Một khu rừng đủ các loại cây. Tán lá ở trên cao chồng chịt lên nhau che kín hết tất cả những gì dưới nó. Không gian yên bình và tịnh lặng. Cái nắng nóng đến phát điên phát khùng của gió Tây Nam không biết đã biến đi tự lúc nào. Tôi như đang lạc vào một miền thần tiên dịu mát.
Tôi lim dim mắt đứng nhìn, rồi chầm chậm thả mình hít thật sâu vào lồng ngực nguồn không khí trong lành đó, mà quanh đây không dễ gì có được. Thật là sảng khoái dễ chịu biết bao. Tôi lướt nhìn một vòng xung quanh. Một cái gì quen quen đang mập mờ hiện ra trước mắt.  Đúng rồi! Cây cối nơi đây có gì đó hao hao như  ở rừng Trường sơn. Nơi mà một thời cánh lính chúng tôi đã hành quân ra trận.
Tôi vượt qua chiếc cầu nhỏ xinh xinh bắc qua một con lạch nhỏ. Nếu như vào mùa con nước về, tiếng róc rách của nước chảy ở dưới vọng lên, tiếng lao xao rừng cây ở trên cao buông xuống, hòa quyện với những âm thanh ríu rít của đàn chim tìm mồi. Tất cả những âm thanh này làm nên một bản hợp ca trữ tình say đắm, dành tặng riêng cho chủ nhân của nó đang thả hồn chiêm ngẫm.
Tôi chợt nghĩ: “Phải là những người thanh liêm như ngày xưa nghỉ quan ở ẩn, hoặc những đạo sĩ đang tu luyện thêm để đi đến giới hạn tận cùng của đạo lý mới tìm đến chốn này”.
Thấp thoáng trước mặt tôi là một ngôi nhà xây cấp bốn nhỏ xinh, ẩn mình khiêm tốn dưới những tán cây um tùm che kín nó. Không một chút chần chừ, tôi vội vàng dựng xe rồi bước nhanh đến. Kia rồi, một ông già nhỏ bé tóc bạc trắng như cước, đang khoan thai bước dọc hè nhà. Đúng là Thầy hiệu trưởng của tôi.
  • Em chào Thầy ạ! Em là Võ Minh đây.
- Thầy chào con. Con là Võ Minh tác giả CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ đấy ư? Thầy cứ hình dung con khác cơ đấy. Không trẻ như thế này đâu? Con vào nhà với Thầy đi.
 Gương mặt Thầy rạng rỡ hiện rõ trong ánh mắt hiền từ thân thương đang tươi cười. Thầy niềm nở, ân cần giang hai tay đón tôi vào nhà. Ôi tiếng gọi “con” sao mà trìu mến thân thương thế. Tiếng gọi tình cảm nhất của bố mẹ ngày xưa khi còn sống đã dành cho tôi. Rồi đến bố mẹ vợ và bây giờ là Thầy gọi con. Một cảm xúc sung sướng lâng lâng không thể nào tả nổi. Tôi theo Thầy vào nhà.
-   Thưa Thầy. Con đã về đây với Thầy rồi ạ. - Tôi lúng búng trả lời.
- Con ngồi xuống đi. Thầy đã đọc ba lần tác phẩm của con. Không những để hiểu thêm về con, mà Thầy muốn hiểu thêm một thế hệ ra trận đã dâng hiến cả cuộc đời trọn vẹn cho dân tộc mình. Trong đó có cả học sinh trường ta. Nhưng rồi, rất nhiều em ra đi từ ngày đó đã mãi mãi không về…
 Thầy vẫn nhớ hôm tiễn các con nhập ngũ ở nhà ông Cống có mấy cây thị nổi tiếng ở xã Nghi Thịnh. Nhìn vào các con, thấy đứa nào đứa nấy gầy còm, yếu ớt và quá trẻ. Giờ phải ngừng học để ra nơi hòn tên mũi đạn. Lúc đó trong Thầy chỉ có một tâm niệm; “ Mong sao cho chiến tranh sớm kết thúc, các con trở về đầy đủ”. – Thầy lấy khăn chấm chấm vào hai mắt nghẹn ngào nói với tôi.
Nghe Thầy nói về những cảm xúc của mình đối với chúng tôi từ khi còn là học sinh bé nhỏ. Cho đến bây giờ những lớp học sinh thời ấy hầu hết đã lên bố mẹ, ông bà cả. Ôi cái tình của Thầy đối với học trò thật là sâu nặng và to lớn biết chừng nào. Cho dù hiện tuổi Thầy đã ngoài tám mươi, sức khỏe yếu đi rất nhiều, nhưng Thầy không vì thế mà quên đi chúng tôi. Mà lúc nào cũng đau đáu dồn hết tâm lực cho những đứa học trò của mình. Luôn dõi theo từng bước đi của những ai đã một thời là học sinh trường cấp 3 Nghi Lộc 1.
- Thầy biết trước khi đến đây con chưa ăn gì? Hồng ơi! Con bê bát cháo lươn ra đây cho anh ăn đi. -  Đột nhiên Thầy dừng câu chuyện lại và nói với tôi, rồi gọi vọng vào bếp. (Hồng là một trong những cô con gái của Thầy)
          Gặp vào tình huống quá bất ngờ, tôi lúng túng chưa biết xử lý ra sao. Mình từ chối hay đồng ý ăn đây? (Mà kể ra cũng đói thật) Nếu mình ăn thì ngượng chết.
- Con đã về đây! Thầy có gì thì con ăn nấy. Đừng có ngại ngùng làm gì cả . – Thầy âu yếm nhìn tôi nói.
 Thầy như người cha nhân từ vỗ về đứa con yêu quý. Tự nhiên tôi thấy mình bé bỏng như ngày xưa. Có gì đấy trào lên trong tôi muốn được nũng nĩu, muốn nép mình vào lòng Thầy. Để được chở che như một thời mang danh “Nhất quỷ nhì ma…” của Trường phổ thông cấp 3 Nghi Lộc 1. Mặc dù tuổi mình bây giờ đã ngoài sáu mươi. Đã lên ông nhiều năm rồi.
          Tôi ngoảnh mặt sang gặp ngay em Hồng đang bê bát cháo lươn nhẹ nhàng đặt ngay trước mặt tôi, tươi cười nói:
  • Em mời anh ăn đi.
Tôi cảm ơn em, nhưng rồi vẫn cuốn hút theo câu chuyện của Thầy. Về những kỷ niệm của tháng ngày ác liệt, khó khăn gian khổ nhất của thầy trò trường cấp 3 Nghi Lộc 1 đã trải qua.
- Thưa Thầy. Phía bên kia đường cách đây độ vài trăm mét là lớp học 8B của chúng con nằm đó. Đầu năm sáu tám giặc Mỹ ném bom sát ngay cạnh lớp. Nếu như không có lũy đất bao quanh, thì cầm chắc chúng con đã chôn chung cùng một hố ở đây rồi.- Tôi kể lại.
- Riêng những chuyện như thế này thì Thầy không bao giờ quên được. Con biết không? Ngày đó Mỹ ném bom dữ quá, trường chúng ta lại kẹp giữa hai mục tiêu đánh phá của chúng là nhà ga Quán Hành và đơn vị bộ đội ra đa ở Cồn Vàng. Thầy không thể tập trung tất cả các khối vào một vị trí được. Nên  Thầy đã quyết tâm sơ tán khối 8 các em sang đây. Thầy nghĩ: “ Biết là các thầy cô giáo rất vất vả, khó khăn khi đi lại giữa các khối đấy. Nhưng phân tán các khối xa nhau, nếu lớp nào có bị trúng bom thì các thầy vẫn còn học sinh để dạy. Còn như tập trung vào một nơi, nếu không may máy bay Mỹ dội bom vào thì Thầy… mất hết”. Hôm đấy không chỉ lớp 8B con bị bom mà còn có thêm lớp 8A, 8D cũng suýt mất cả lớp.
- Thưa Thầy. Chính Thầy đã sinh lại chúng con ngày ấy đấy. Nếu như Thầy không không tính toán và lo xa để tổ chức, kiểm tra, đôn đốc chúng con đào hầm, đắp lũy thì tổn thất của trường ta ngày đó là rất lớn. Con cảm ơn Thầy rất nhiều. – Hai mắt tôi nhòa đi ngập ngừng nói với Thầy.
- Những năm tháng ấy giặc Mỹ ném bom ác liệt quá. Nhất là sau khi Thầy nghe đài BBC nói: “ Ga Vinh sẽ chuyển về ga Quán Hành”. Ngay đêm hôm đó và mấy đêm sau, Thầy không thể nào ngủ được. Nếu để trường ta bám trụ ở đây tiếp thì rủi ro rất cao. Phương án sơ tán trường lên miền tây Nghệ An đã hình thành lên trong đầu Thầy từ lúc đó. Nằm ở trên giường mà cứ mong cho trời chóng sáng, để Thầy còn sang Ủy ban huyện xin ý kiến.
 Gặp được được ông phó chủ tịch huyện, Thầy vội vàng trình bày ngay dự định của mình, với hy vọng ông ấy nhanh chóng ủng hộ, để còn về kịp triển khai kế hoạch với Ban giám hiệu cử ngay người đi tiền trạm, tìm địa điểm đưa học sinh sơ tán cho kịp vào năm học mới.
Nhưng em biết không?  Ông phó chủ tịch đã không ủng hộ còn quay lại mắng phủ đầu Thầy xơi xơi: “ Thầy là hiệu trưởng mà tinh thần dao động thế à? Cả cái huyện Nghi Lộc này đang hiên ngang bám chặt nơi đây chống giặc Mỹ. Thế mà Thầy lại lo sợ, đầu hàng địch sớm thế. Thầy đưa học sinh lên miền rừng núi là để trốn bom đạn đúng không?”
 “Nhưng báo cáo với đồng chí. Tất cả học sinh đây là con em người dân Nghi Lộc. Những nhân tài và công dân tiên tiến của đất nước ta cũng từ những học sinh này mà ra. Các em ở đây là những hạt giống quý. Chúng ta phải có nhiệm vụ bảo vệ và ươm trồng”. – Thầy vẫn kìm nén để nhã nhẵn trả lời. Nhưng ông ta vẫn không buông tha mà đỏ mặt hầm hầm quát tháo: “Không có bảo vệ hay ươm trồng gì gì ở đây cả. Đối với nhiệm vụ trước mắt chúng ta bây giờ: Mỗi đơn vị là một pháo đài. Mỗi người dân là một chiến sỹ trên tuyến đầu đánh Mỹ! Phải bám trụ! Không được đầu hàng! Không được đi đâu cả! Dân quân, tự vệ đâu đến trói ngay ông hiệu trưởng này lại”.
 Đến lúc này Thầy không thể chịu được thái độ hách dịch của ông Phó chủ tịch. Nên đã đứng phắt dậy và nói: “Tôi giơ hai tay đây! Anh muốn trói thì trói đi. Cần gì phải gọi dân quân”. Với thái độ kiên quyết của Thầy, ông Phó chủ tịch huyện đành phải im lặng.  
- Cha cứ nói chuyện mãi. Để cho anh ăn cháo đi không nguội hết mất rồi. – Em Hồng quay sang tôi nói tiếp: - Tính cha em là vậy đó anh. Cứ có học sinh cũ về thăm là cha em mừng lắm. Mà đầu năm vừa rồi có một anh học sinh cũ tóc bạc hết, về nói chuyện với cụ say sưa suốt cả một ngày mà chẳng kêu mệt.
- Thầy trò cha là vậy đó. Con cứ nhắc lại làm gì? – Nhìn vào tôi Thầy nói:
- Con cứ tự nhiên ăn đi! Hồng ơi. Con lấy bát khoai tây ra để cha ăn cùng với anh cho vui.
Khi Thầy nói lấy bát khoai tây ra, tôi thấy có gì đấy ân hận và xấu hổ. Nhưng mọi việc đã an bài rồi, không thể dừng lại được. Tôi bê bát cháo lên ăn.
- Con biết không? Mặc dù ông Phó chủ tịch huyện phản đối, Thầy vẫn triển khai kế hoạch đưa các em sơ tán lên vùng miền Tây Nghệ An. Ngay ngày hôm sau, Thầy đã một mình đạp xe lên Nông trường Sông Con làm công tác tiền trạm rồi về đưa các con lên đó. Khi đi đến chân cầu Mợu Thầy gặp hai người bạn quen. Mọi người dừng lại đấy để nói chuyện. Một linh cảm như mách bảo Thầy. “Phải tránh xa nơi đây. Thế nào máy bay Mỹ cũng ném bom”. Thầy vội giục mọi người nhanh chóng rời khỏi nơi này ngay. Nhưng hai người bạn quá chủ quan, vẫn dùng dằng nói chuyện tiếp. Khi Thầy đã vượt qua cầu một đoạn, thì bất ngờ máy Mỹ từ đâu bổ nhào xuống.  Một loạt bom đã nổ tung ngay nơi hai người đang đứng. Thầy thoát chết trong gang tấc. Nhưng hai người bạn phải nằm lại nơi đấy mãi mãi. – Thầy trầm ngâm nói với tôi.
Thầy nói tiếp với tôi về những linh cảm của mình. Nhờ những linh cảm đó đã mấy lần cứu Thầy thoát chết . Cũng như thầy trò Trường cấp 3 Nghi Lộc 1. Suốt cả một thời kỳ chiến tranh kéo dài, bị địch ném bom đánh phá rất ác liêt, nhưng không một ai bị thương vong cả. Thầy nói:
- Khi đến được Nông trường Sông Con. Thầy gặp Ban giám đốc nông trường đặt vấn đề nhờ được giúp đỡ, cho học sinh trường ta sơ tán lên đây. Em biết Ban lãnh đạo trả lời với Thầy như thế nào không?. “ Thầy có biết nông trường tôi trồng cây gì không? Cam đấy! Cho học sinh của Thầy lên đây để vặt trụi hết cam của chúng tôi đi à?”
Vừa nghe xong thầy giận tím hết người, nên đứng ngay dậy dõng dạc trả lời thẳng thừng với họ. “ Huyện Nghi Lộc là chảo lửa chiến tranh của tỉnh ta. Lẽ ra, vào những lúc như thế này các anh ở đây phải chia lửa cho chúng tôi. Các anh nghĩ mấy quả cam của các anh to lắm ư? Dân Nghi Lộc chúng tôi nghèo thật đấy! Nhưng vẫn đủ tiền trả hết số cam của các anh có”. Ban lãnh đạo nông trường Sông Con thấy hố. Mọi người ngượng ngùng xoa dịu và mời Thầy đưa học sinh đến đấy.
Vừa nghe đến đoạn bị người nơi khác coi thường và sỉ nhục dân Nghi Lộc mình. Hai tai tôi nóng ran (Mặc dù chuyện đã xảy gần năm mươi năm), ước gì mình được có mặt lúc ấy. Mình sẽ đập bàn, đập ghế, chỉ thắng ngay vào mặt những kẻ dám xúc phạm dân Nghi Lộc nhà mình. Nhưng khi đã bình tâm nghĩ lại: “Không dễ mấy ai chính gốc người Nghi Lộc đã có những lời đáp trả kháng khải, đanh thép như vậy”.
Lời đáp trả đó, không những đã bảo vệ được phẩm chất, danh giá cao thượng của dân mình. Mà còn cho mọi người thấy được cái khí phách hào hùng luôn sẵn có trong máu xương từng con người Nghi Lộc. Đấy là lời đáp trả bộc trực, nóng rừng rực của gió Tây Nam, như muốn đốt cháy hết tất cả những gì định cản đường đi của nó. Nhưng cũng rất “đặm” trong vị mặn lắng sâu, mà trong lành, mà dịu mát của gió biển từ ngoài Cửa Lò, Cửa Hội thổi vào. Cốt cách của dân Nghi Lộc là vậy đó!
Chính Thầy và các thầy cô mới là dân Nghi Lộc chính hiệu. Vì cả cuộc đời lập nghiệp của các thầy cô đã hy sinh, cống hiến hết mình cho sự nghiệp trồng người ở huyện nhà. Còn chúng con, tuy được sinh ra ở mảnh đất Nghi Lộc thân yêu đấy. Nhưng khi đã trưởng thành, phần lớn chúng con đều tìm đến những vùng đất mới lạ để lập nghiệp, rồi gắn kết trọn đời với nơi đó. Con xin cảm ơn Thầy.
- Biết được Ban lãnh đạo nông trường không thiện cảm với mình. Thầy không cần họ nữa.  Nhưng thực ra, cái không may này lại là cái may lớn cho trường ta đấy. Ngay sau đó Thầy về gặp Ban lãnh đạo nông trường Đông Hiếu để nhờ được giúp đỡ. Họ đồng ý ngay. Họ đã hủy đề nghị trước đó của một nhà máy cơ khí cũng xin đến nơi này. Để ưu tiên nhận học sinh trường ta.  Chính nhờ sự giúp đỡ kịp thời và quý giá của Ban giám đốc nông trường Đông Hiếu, mà trường ta có mấy cái nhất: Chuyển trường đi sớm nhất. Ổn định nơi ăn chốn ở cho các con kịp thời nhất. Dựng  các lớp học và bàn ghế nhanh nhất. Cái cuối cùng là địa điểm di chuyển gần nhất.
 Những ngày đầu đưa các con đến nơi rừng núi. Thầy và các thầy cô khác lo lắng đủ điều, không ăn, không ngủ được. Đành rằng biết Nông trường bộ và các đội sản xuất đảm bảo nơi ăn chốn ở chu đáo cho các con rồi. Nhưng nhìn lại thấy đứa nào cũng quá nhỏ và ngây thơ. Bây giờ bảo các con đi chặt gỗ to cả mấy người ôm để xẻ từng tấm ra làm bàn. Không biết sức các con có làm nổi không? Có đảm bảo an toàn không? Nói dại mồm dại miệng. Nếu như con nào có mệnh hệ gì thì thầy cô biết nói thế nào với cha mẹ các con đây. Trước khi quyết định trường ta lên đây. Cha mẹ các con đã đặt hết niềm tin cho thầy cô rồi. Như vậy họ mới yên tâm gửi các các con lên đây chứ!
 Mà đâu chỉ có mỗi một nỗi lo đấy. Các con chặt gỗ, cắt cỏ tranh xong rồi thì phải dựng ngay lớp học nữa chứ! Bao cái lo và bao khó khăn dồn nén lên đầu thầy trò mình. Cho đến khi mọi công việc đã hoàn thành mỹ mãn. Tất cả các con đều an toàn cả, không có một sự cố nào xảy ra. Năm học mới khai giảng đúng lịch. Đến lúc đó các thầy cô mới dám thở phào một chút. Cho nên, Thầy rất tin học sinh của mình. Cái khó nào cũng vượt được. – Thầy nói liền một mạch.
- Thầy ơi. Còn khi các con được quyết định của Thầy kéo quân trở về  quê hương Nghi Lộc. Sau đó lại bắt tay xây dựng trường lớp mới. Lúc ấy các thầy có lo lắng lắm không?- Tôi hỏi Thầy.
- Nói chuyện kéo quân về thì dễ. Nhưng cả chặng đường đi dài hơn một trăm cây số có cả đèo dốc đâu có đơn giản! Tất nhiên các con phải tự đi bộ. Như vậy đã bớt đi một trong những cái khó khăn lớn cho các thầy cô rồi. Nhưng phải tổ chức di chuyển như thế nào đây? Ai dẫn các con trên đường đi. An toàn của các con là trên hết. Rồi còn có gỗ, tre và kèm bao nhiêu thứ khác phải vận chuyển hết về. Ước tính đến cả chục chuyến ô tô tải lớn mới chở hết được. Để khi về quê còn có cái mà dựng lán học, làm bàn ghế cho các con học chứ. Nhưng chúng ta làm gì có tiền để mà thuê họ. Vậy nhờ vả được ai đây?
 Thầy về huyện mình với hy vọng được lãnh đạo ủy ban cho mấy chuyến xe lên đó. Nhưng Thầy vừa nói đến “cần vận chuyển hết số gỗ về làm bàn ghế và xây dựng trường học” thì ông Phó chủ tịch huyện đã the thé cắt ngang, với lời tuyên bố xanh rờn: “Dân Nghi Lộc này không cần chi cả! Bỏ! Bỏ lại hết! Thầy đưa được tất cả học sinh về đến đây an toàn là được rồi. Về đây ta xây dựng trường mới!”
 Vừa thất vọng, vừa buồn bực Thầy nghĩ:  Bỏ lại hết thì về đây lấy cái gì mà xây? Huyện có cho trường đồng nào không? Chắc là không rồi? Phụ huynh các gia đình có con sơ tán về bấy lâu nay chất chồng đầy khó khăn. Cái ăn, cái mặc đã không đủ còn bắt họ đóng góp cái gì đây?
 Cái ấp ủ, háo hức và hy vọng nhất được huyện giúp đỡ trường ta bỗng dưng tắt phụt. Đã có lúc Thầy hoang mang, rối trí. Nhưng, tất cả vì học sinh thân yêu của Trường phổ thông cấp 3 Nghi Lộc 1. Vì những gì người dân đã gửi hết niềm tin cho Nhà trường. Thầy lại bình tâm suy xét để tìm những lối đi khác. Lối đi mà gánh nặng đó không được đặt lên vai người dân nghèo khó.
 Lại một mình lọc cọc đạp xe hơn một trăm cây số, ngược lên mảnh đất Nghĩa Đàn. Thầy tìm đến một đơn vị bộ đội ở đó nhờ giúp đỡ. Không thể diễn tả hết niềm vui lúc bấy giờ. Đơn vị bộ đội đã đồng ý và điều ngay xe ô tô tải, vận chuyển hết số gỗ và các loại thiết bị khác của trường về quê mình Nghi Lộc.
 Cứ nghĩ: “Chiến tranh ném bom đánh phá miền Bắc của máy bay Mỹ không còn nữa. Hòa bình thực sự đã về. Việc di chuyển trường về nơi trung tâm thuận lợi cho con em các xã trong huyện là cần thiết. Thế là trường ta lại một lần nữa di chuyển. Lần này thì trường đóng đô trên đất Cồn Vàng xã Nghi Thịnh. Bên cạnh con lộ chính. Nhưng rồi cũng chẳng được yên. Đó là vào đầu năm 1972 máy bay Mỹ quay trở lại…
Nói ra điều này cũng lạ lắm. Trước đó mấy ngày Thầy có linh cảm chúng nó sẽ ném bom vào trường ta. Thầy vội cảnh báo cho tất cả giáo viên học sinh tránh xa trường một thời gian. Thầy còn nhớ: “ Hôm ấy là ngày thứ bảy Thầy vừa đi về đến cổng trường, đã thấy thầy Trãi đang đợi mình để đề nghị xin được ở lại. Lúc đó Thầy đã cương quyết bác bỏ yêu cầu này. Rồi cảnh báo cho thầy Trãi và các giáo viên khác còn nấn ná ở đây. Phải rời trường ngay. Con biết không? Và chỉ có hơn chục tiếng sau đó, vào hồi 10 giờ 30 phút ngày chủ nhật 16 tháng 5 năm 1972, máy bay Mỹ đã dội bom đốt cháy gần hết trường ta.
 Cái mừng là sau đợt bom thầy trò trường ta vẫn còn nguyên vẹn. Cái buồn là cơ sở vật chất của trường lại cháy mất gần hết rồi. Cộng thêm cái buồn của mấy ngày trước đó vẫn còn day dứt chưa nguôi. Trường ta vừa chia tay một số học sinh (cơ bản thuộc khóa 70 - 73) phải ngừng học để lên đường ra trận. Mỗi lần như thế Thầy lại vẫn mong “Kết thúc chiến tranh xong, các con phải trở về đông đủ”. Nhưng danh sách liệt sĩ của trường ta ken đặc nhiều trang giấy. Chiến tranh đã kết thúc từ lâu lắm rồi. Nhưng hàng trăm con đã mãi mãi không về… - Thầy nói một mạch không nghỉ. Gương mặt chùng lại, đôi mắt nước dâng trào. Hai thầy trò nghẹn ngào lặng đi…
Biết Thầy đã quá mệt, tôi không muốn quấy Thầy thêm nữa. Dẫu vẫn biết kho tư liệu này còn đồ sộ lắm. Một thời gian ngắn không thể khai thác hết được. Thôi mình tạm dừng ở đây, chờ vào dịp khác. Trước khi chia tay tôi đã hỏi Thầy:
- Thưa Thầy. Cả một cuộc đời Thầy đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp trồng người. Cả tỉnh Nghệ An ta ai cũng biết. Ai cũng kính trọng. Nhất là những thế hệ học sinh dưới tay Thầy ươm trồng. Có nhiều người rất thành đạt. Là những cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội, giáo sư, tiến sĩ, nhà khoa học, nhà doanh nhân… Tất cả đều kính trọng Thầy, biết ơn Thầy. Hiện nay Thầy có được phong danh hiệu “ Nhà giáo Nhân dân” không?
- Về danh hiệu “ Nhà giáo Nhân dân” thì Thầy chưa được Nhà nước phong. Nhưng… mọi người dân gọi Thầy là: “Nhà giáo của Nhân dân”. – Thầy trầm ngâm nói với tôi.
“ Nhà giáo của Nhân dân”. Đây mới là danh hiệu cao quý nhất của Nhà giáo mà người dân tôn kính trao tặng. Danh hiệu mà những giáo viên chân chính luôn mơ ước để có được. Họ đã phấn đấu, hy sinh, cống hiến suốt cả một cuộc đời. Nhưng không phải ai cũng về đến đích.
 
                                                                                                                                                                                                                               Hà nội, tháng 6 năm 2013
                                                                                                                                                                                                                                             Võ Minh
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin mới gửi

Đăng ký thành viên

Thăm dò ý kiến

Theo bạn website này:

Giao diện đẹp, bố trí hợp lý

Mọi thứ tạm ổn

Cần bổ sung chức năng diễn đàn

Cũng bình thường

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 151

Máy chủ tìm kiếm : 117

Khách viếng thăm : 34


Hôm nayHôm nay : 11435

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 267952

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6148631