Doanh nghiệp giới thiệu

Tổng Công ty 36
Công ty Nano
Áp lực Đông Anh
An Phát
Công ty Sigma Việt Nam
Công ty Cổ phần thiết bị giáo dục và Khoa học kỹ thuật Ngân Hà

Liên kết website

Nghi Lộc 1
Khóa 70-73
Du lịch Cửa Lò
Vũ Đăng Hiến
Nguyên Hùng
Lê An Tuyên

Trang nhất » Tin Tức » Văn - Thơ - Nhạc

Đăng bài viết

Cách mạng tháng Tám và văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam

Thứ năm - 22/08/2013 08:22




Thác Bản Dốc (Cao Bằng)

Một trong những sự kiện chứng tỏ sự phát triển vượt bậc của văn học viết các dân tộc thiểu số từ sau 1945 là sự xuất hiện văn xuôi; cùng với con đường văn xuôi nhanh chóng hướng tới các mục tiêu: cách mạng hiện đại; tính từ áng văn xuôi đầu tiên là Đời người Dao (1948) của Bàn Tài Đoàn qua Ché Mèn được đi họp (1959) và Muối lên rừng (1964) của Nông Minh Châu... đến các tiểu thuyết của Vi Hồng và Cao Duy Sơn trong hai thập niên cuối thế kỷ XX.

Nhìn chung, sự phát triển của văn học viết các dân tộc thiểu số anh em là con đường từ thơ sang văn xuôi.

Và nói văn xuôi ở độ phát triển cao – đó là con đường xuất hiện của các thể truyện ngắn, vừa và dài – tức tiểu thuyết của chính người viết các dân tộc. Từ Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Vi Thị Kim Bình, Y Điêng… đến Vi Hồng, Cao Duy Sơn, tôi nghĩ đó là một bước phát triển thật ngoạn mục. Nhà giáo kiêm nhà văn Vi Hồng trong khoảng thời gian từ 1980 đến 1995 đã cho ấn hành trên dưới 20 tập truyện và tiểu thuyết, trong đó có những cuốn gần như là áp sát vào sự sống của làng bản và đô thị, đặt ra nhiều vấn đề nhức nhối của đạo đức - nhân sinh như Người trong ống (1990), Dòng sông nước mắt (1993), Phụ tình (1994), Chồng thật vợ giả (1994), Đi tìm giàu sang (1995)… Tôi biết anh Vi Hồng - người không khỏe, bận rộn với công việc của một người thầy, đời sống thời bao cấp rất khó khăn, cuộc đời riêng có nhiều bi kịch… Thế mà không biết anh lấy đâu ra thời gian và sinh lực để viết nên một khối lượng tác phẩm đồ sộ đến như thế, không dễ ai là “cây tiểu thuyết” có thể sánh kịp… Mà không phải loại tiểu thuyết “ôn nghèo kể khổ” hoặc “ơn Đảng ơn Chính phủ” nhằm ca ngợi công ơn chế độ… Sự kiện Vi Hồng rất đáng cho ta khảo sát để thấy một năng suất vượt trội trong những cây bút người dân tộc. Sau Vi Hồng, tôi nghĩ đến Cao Duy Sơn, với những tập truyện và tiểu thuyết anh viết từ 1992 trong đó rất đáng chú ý là tập truyện Ngôi nhà xưa bên suối (2007), và Đàn trời (2006), cùng Chòm ba nhà vừa ấn hành năm 2009.
                                                   Cao Duy Sơn viết về vùng quê Cao Bằng của anh. Dấu ấn con người và vùng đất Cao Bằng thấy rất rõ; nhưng trong cấu trúc nhiều tầng nhiều lớp của cốt truyện, và trong thế giới nhân vật rất đa hệ, gồm nhiều loại người – đặc biệt là một lớp quan chức tha hóa cấp cao, tôi thấy cứ như là sự hiện hữu, sự thu nhỏ của đất nước trong một giai đoạn mới, vừa có mặt lạc quan trong phát triển, vừa tiềm ẩn rất nhiều âu lo và hiểm họa trong thế đạo, nhân tâm. Tiểu thuyết của Cao Duy Sơn là tiểu thuyết của cái thời hôm nay, thời chúng ta đang sống.

Để có bước chuyển đột xuất này trong văn xuôi và tiểu thuyết của các dân tộc cũng cần lưu ý đến sự đồng hành của những cây bút tiền bối anh em là người Kinh - kể từ Tô Hoài, Nguyên Ngọc… đến Mạc Phi, Ma Văn Kháng, Phượng Vũ, Nguyễn Trường Thanh, nếu lấy tiêu chí chọn đời sống miền núi, vùng cao làm chất liệu chủ yếu cho sự miêu tả. Cho đến bây giờ, xét về thành tựu của đề tài miền núi trong văn học Việt Nam hiện đại vẫn cần phải nhắc đến Truyện Tây Bắc, Miền Tây của Tô Hoài; Đất nước đứng lên, Rừng xà nu của Nguyên Ngọc; Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải của Ma Văn Kháng; Rừng động (2 tập) của Mạc Phi; Hoa hậu xứ Mường của Phượng Vũ…

Đấy là những cuốn sách quan trọng, ghi lại gương mặt một thời cách mạng và chiến tranh, trong sự nghiệp giải phóng đất nước, và giải phóng các tầng lớp cần lao dưới đáy ở miền xuôi và miền núi.

Còn đến bây giờ thì mọi ranh giới và các biên độ của sự miêu tả trong tiểu thuyết đã được mở ra rất rộng. Các cây bút người dân tộc, kể từ Vi Hồng, Cao Duy Sơn… đến các thế hệ tương lai đều có thể viết về bất cứ đề tài nào trong cuộc sống rộng lớn hiện nay, chứ không nhất thiết phải hạn chế trong bất cứ một khu vực nào. Dĩ nhiên, viết về chính dân tộc mình, địa phương mình thì chắc là không ai có thẩm quyền hơn họ; nhưng với những phương thức trải nghiệm và tích lũy vốn tri thức, văn hóa, vốn biết, vốn hiểu thời hiện đại; và với vốn tiếng Việt thật sự là bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc hôm nay, thì câu chuyện đề tài, câu chuyện viết về cái gì chắc không còn là câu chuyện đáng quan tâm ở hàng đầu nữa. Văn xuôi là thế. Và thơ cũng là thế!

Nói cách khác: viết gì là đối tượng đã được mở rộng đến tối đa, trong một thế giới được gọi là phẳng như bây giờ để không có bất cứ giới hạn nào của không gian và thời gian cho sự miêu tả. Có nghĩa là, có thể và cần viết về tất cả những gì liên quan đến Con người của mỗi dân tộc trong một cộng đồng đa dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam. Viết cho ai - cũng cần một cách giải đáp tương tự - viết riêng cho mỗi dân tộc cùng với cộng đồng năm mươi tư dân tộc; và như vậy là từ vị thế một dân tộc nhỏ, đã có chữ, hoặc chưa có chữ mà hòa vào một cộng đồng lớn, có chung một chữ viết là chữ Việt.

Cuối cùng, Viết như thế nào? có thể là câu hỏi đáng được quan tâm nhất hôm nay trong một sự nghiệp chung là hiện đại hóa. Bởi, chỉ với câu hỏi này thì yêu cầu về bản sắc riêng của mỗi dân tộc mà tác giả là người đại diện, cùng với cá tính riêng, bản lĩnh riêng của mỗi người viết sẽ được đặt ra. Tức là một yêu cầu cao nhất được đặt ra đối với mỗi nhà văn, nhà thơ, khi đã chọn ngôn ngữ làm phương tiện cơ bản cho hoạt động nghề nghiệp của mình. Ngôn ngữ - đó là tiếng nói và chữ viết, và cuối cùng là chữ viết. Đối với mỗi người viết văn làm thơ dân tộc, nếu đã có chữ viết thì cần sử dụng và trau dồi cho nó; nếu chưa có chữ thì dùng ngay chữ Việt là chữ chung của cộng đồng, như một phương tiện có hiệu quả nhất cho sáng tác và phổ biến trong toàn dân và trên cả nước. Việc dùng hai ngôn ngữ, tức song ngữ, nếu trước đây hàng chục năm là cần thiết, thậm chí là bắt buộc, cho công việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến, quảng bá lý tưởng cách mạng đối với công chúng đa số còn chưa biết chữ, thì bây giờ có lẽ không còn là chuyện bắt buộc. Trên thế giới có nhiều ngôn ngữ được dùng cho nhiều quốc gia như tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Trung Hoa… nhưng mỗi quốc gia đều có một nền văn học riêng, mang theo bản sắc riêng, không giống nhau. Trong phạm vi hẹp của một quốc gia như Việt Nam, với ngót 90 triệu dân như hiện nay, tiếng Việt -  tiếng của người đa số - vẫn phải (hoặc nên) là tiếng chung cho tất cả mọi người viết dân tộc. Và điều khiến tôi sung sướng, cảm phục là tất cả các nhà văn, nhà thơ hiện đại của các dân tộc anh em mà tôi quen biết đều rất giỏi, rất sõi, rất tinh thông tiếng Kinh. Từ tiếng Kinh, và với các phương tiện truyền thông hiện đại, số lớn các tác giả dân tộc đều đã tiếp nhận được một vốn lớn các tri thức rất cần thiết cho nghề viết.

Điều cần nói thêm cho sự mong mỏi - đó là dẫu viết bằng song ngữ, hoặc bằng tiếng Việt thì tiếng Việt của Vi Hồng hoặc Cao Duy Sơn, của Inrasara hoặc của Dương Thuấn, và của nhiều người khác, vẫn là một tiếng Việt có in bản sắc riêng của cá nhân; và cá nhân đó là người của chính dân tộc mình, người không quên nguồn cội của mình.

Những Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Cầm Biêu, Y Điêng, Triều Ân, Vi Hồng, Inrasara, Dương Thuấn… đều là người có ý thức sưu tập các giá trị truyền thống trong kho tàng văn hóa dân gian rất giàu có của chính dân tộc mình. Tôi nghĩ cái vốn hiểu này càng sâu thì bản sắc cá nhân của mỗi người càng đậm.

Theo dõi tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc trong hơn một thế kỷ qua, nếu gia tốc lịch sử là đặc điểm rất đáng lưu ý trong sự phát triển chung của các thể loại văn học, thì với văn học các dân tộc thiểu số tôi cũng thấy rất rõ gia tốc ấy, trong những biến đổi về chất, đưa tới sự xích gần lại nhau trong đội ngũ đông đảo mọi người viết của thời hiện đại. Hướng về cội nguồn của mỗi dân tộc, hoặc vươn đến tầm nhìn và tầm nghĩ của thế giới hiện đại, chúng ta đều có chung khát vọng, không phải là sự phân biệt, cách biệt giữa dân tộc này và dân tộc khác mà là sự hòa nhập, sự gắn nối, sự cộng hưởng, của riêng và chung. Riêng và chung trong đa dạng và thống nhất – đó chính là gương mặt hôm nay của sự phát triển văn học các dân tộc thiểu số trong đại gia đình văn học Việt, văn hóa Việt.
   Phong Lê


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin mới gửi

Đăng ký thành viên

Thăm dò ý kiến

Theo bạn website này:

Giao diện đẹp, bố trí hợp lý

Mọi thứ tạm ổn

Cần bổ sung chức năng diễn đàn

Cũng bình thường

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 62

Máy chủ tìm kiếm : 54

Khách viếng thăm : 8


Hôm nayHôm nay : 6095

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 294868

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5092361