Doanh nghiệp giới thiệu

Tổng Công ty 36
Công ty Nano
Áp lực Đông Anh
An Phát
Công ty Sigma Việt Nam
Công ty Cổ phần thiết bị giáo dục và Khoa học kỹ thuật Ngân Hà

Liên kết website

Nghi Lộc 1
Khóa 70-73
Du lịch Cửa Lò
Vũ Đăng Hiến
Nguyên Hùng
Lê An Tuyên

Trang nhất » Tin Tức » Văn - Thơ - Nhạc

Đăng bài viết

ĐẶC SẢN TIẾNG NGHI LỘC QUÊ TÔI

Thứ sáu - 06/07/2018 19:33



“ ĐẶC SẢN” TIẾNG NGHI LỘC ( NGHỆ AN ) QUÊ TÔI

Người vùng quê huyện Nghi Lộc ( Nghệ An ) chúng tôi có tiếng nói rất khác với vùng miền khác - kể cả so với người ở các huyện lân cận. 
Chúng tôi nói vui, đó là một thứ “ đặc sản”.
Sinh thời, Bác Hồ cũng có lúc đùa trêu tiếng Nghi Lộc. Sự thể là : Làng Đại Xá quê tôi có ông Lê Văn Nhợng là cần vụ Bác Hồ từ đầu kháng chiến chống Pháp cho đến tận ngày Bác từ trần. Ông được Bác Hồ đổi tên là Cần - Lê Văn Cần - đứng đầu số người phục vụ Bác : CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH. Được biết, nhiều lần Bác Hồ thường nhờ ông thay mình khi đo may quần áo. Vì số đo của ông Cần gần khít với số đo của Bác Hồ - chiều cao cũng 1, 67 m. Sinh thời, có lần ông Cần nói rằng, Bác Hồ thích ăn cà pháo Nghi Lộc. Mỗi khi về phép, ông Cần đều mang cà ra làm quà biếu Bác. Có bữa ngồi ăn, Bác Hồ vừa gắp quả cà vừa hỏi: " Này chú Cần, đây là cà có cuống hay cà có đuôi? ". Ông Cần vui vẻ thưa lại bằng nguyên bản tiếng Nghi Lộc: " Da, đây la ca co cuông a !". Hai bác cháu cùng cười vui.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lần gặp mấy anh em cán bộ Cục Chính sách đến báo cáo vào ngày 13/2/1997, khi nghe tôi nói tiếng “ trọ trẹ”, Đại tướng ân cần hỏi: “ Đồng chí Cục trưởng quê Nghệ An à? ở huyện nào ?”. “ Dạ thưa, cháu quê ở huyện Nghi Lộc ạ”. Nghe xong, Đại tướng vừa cười, vừa trêu đùa: “ Phải rồi, cà có cuống, cá có đuôi, đúng không nào”.

Chí sĩ yêu nước Hoàng Phan Thái ( 1829 -1883), quê ở làng Cổ Đan, huyện Nghi Lộc - đi thi đỗ đầu xứ, nên người đời vẫn gọi là Đầu xứ Thái - Là người thông minh, khoa bảng, giỏi văn thơ, yêu nước, chống Pháp, Cụ bị Triều đình Huế giết hại. Hiện, ở thành phố Vinh có một con đường mang tên ông.
Chuyện xưa kể rằng : Trước lúc bị hành quyết, Đầu xứ Thái hiên ngang ngẩng cao đầu, dõng dạc đọc một bài thơ đầy khí phách cốt cách hào hiệp:
" Ba hồi trống dục đù cha kiếp 
Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời 
Sống làm tướng mạnh ba phương đất 
Thác xuống thần thiêng bốn phương trời
Thằng nào chém tớ chém cho đứt 
Có lấy tiền công, tớ trả sau ".
Cụ Hoàng Phan Thái có câu đối vui bằng chữ Hán :
" Đình tiền chỉ kiến trường đăng khách ;
Lộ thượng nan phùng tạp nguyệt nhân "
( Nghĩa là :"Trước đình chỉ thấy khách dài đèn / Trên đường khó gặp người lộn trăng "). Cái hay, cái vui của câu đối của Cụ Đầu xứ Thái là ở chỗ: Phải dịch sang tiếng Việt và đọc bằng ngữ điệu Nghi Lộc, các từ đều không có dấu.

Tướng Hoàng Đan nổi tiếng về tài năng, chiến công và thêm nữa ... nổi tiếng bằng tiếng Nghi Lộc. Trong tất cả những giai thoại về Tướng Hoàng Đan, theo tôi, sẽ hay hơn nhiều nếu người kể dùng tiếng Nghi Lộc - Một đặc sản không dễ gì có được! Mấy chục năm trước, khi tôi chiến đấu ở chiến trường, đã nghe mấy anh cán bộ cấp Trung đoàn, Sư đoàn nói rằng: Khi các ông ấy học ở Trường Trung cao Quân sự ( nay là Học viện Quốc phòng), thì ông Hoàng Đan là giáo viên Chiến thuật rồi làm Trưởng ban Khoa học quân sự của Trường. Khi trên bục giảng về chiến thuật, chiến dịch của quân đội Mỹ, ông Đan nói: " Cac đông chi a! Thăng Mậy ơ miên Nam tô chưc phong ngư không thanh tuyên, ma la phong ngư theo cư điêm va cum cư điêm ". Nhiều người nghe không hiểu gì, phải nhờ mấy ông học viên là người Nghi Lộc phiên dịch sang tiếng phổ thông. 
Sau Giải phóng miền Nam, đang là Phó Tư lệnh Quân đoàn 2, ông Hoàng Đan được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Học viện Quân sự cao cấp ( ông Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Giám đốc Học viện). 
Tướng Quốc Thước kể, năm 1976, lớp học đầu tiên của Học viện mở cho các cán bộ Trung, Cao cấp ở các chiến trường về học. Ông Thước là người cùng quê Nghi Lộc, hồi nhỏ là bạn học ở Trường huyện với ông Đan. Có lần, ông Hoàng Đan nói với ông Quốc Thước : " Nay, Thươc ơi! Vê đây tau mơi thây ngược đơi : Ai lai, thăng nhat đi day thăng gan, thăng dôt đi day thăng gioi, thăng chưa đanh hoăc đanh it dạy cho thăng đanh nhiêu. Ma cha quân hăn. Biêt cây chi ma day".
Có lần , ông Đặng Vũ Hiệp nói với tôi: “ Sau 1975, đang là Chính ủy Quân đoàn 3, tớ được triệu tập về học ở Học viện. Mấy hôm đầu, Hoàng Đan lên giảng bài, quát tháo lung tung. Nhiều học viên là cán bộ cấp Trung đoàn, Sư đoàn ngồi dãy phía trước cảm thấy khó chịu, nói với bọn tớ: " Ông Đan cậy thế giỏi, đánh giặc nhiều, coi bọn đàn em không ra gì. Đề nghị hôm sau các thủ trưởng cấp Quân đoàn, Quân khu ngồi lên hàng phía trên để cho ông ấy bớt kiêu đi ". Hôm sau, bọn tớ là loại cùng trang lứa, ngang ngửa chiến tích với Hoàng Đan - thậm chí có người là cấp trên Hoàng Đan nữa - rủ nhau ngồi lên dãy phía trước. Thế là, giờ lên lớp Hoàng Đan nói "mềm" hơn. Các cậu học viên trẻ mừng lắm". 
Ông Hoàng Đan là thế! Chỉ phục người giỏi hơn hoặc ít ra bằng mình. 
Nhiều người vốn là cấp dưới trực tiếp của ông Đan đã khái quát tổng kết là: " Với ông Hoàng Đan, điều kiện để phát huy khả năng sở trường chỉ huy là: Quân đông, Tăng lắm, Pháo nhiều ! Ông không quen đánh nhỏ ". Chẳng thế mà, năm 1984, khi được cấp trên giao chỉ huy đánh quân địch ở Bình độ 400 sát biên giới phía Bắc, lúc phổ biến nhiệm vụ cho cấp dưới ông Đan nói: " Tô cha thăng Tau! Chung ta se dung pháo binh băn thât nhiêu, trut vao đo cho lơ ru ra. Xem bon hăn co chiu đươc không ".
Tương truyền, ông Hoàng Đan khi làm Sư trưởng Sư 304, các Trung đoàn trưởng trong Sư đoàn phải chọn một Trợ lý là người Nghi Lộc để làm phiên dịch. Nếu không, dễ bị hiểu sai khi nhận nhiệm vụ, phát sinh rắc rối.

Do tiếng nói của người Nghi Lộc khó nghe, nên khi giao tiếp với người vùng khác dễ bị hiểu lầm.
Thời bao cấp, có ông Nghi Lộc ra Hà Nội chơi. Một hôm, ông ăn mặc rất chỉnh tề đi vào Cửa hàng Bách hóa. Trước quầy, ông gặp một người bạn cùng quê, vồ vập hỏi han nhau rõ to: " Mi ra khi mô. Ra mân chi " ( Mày ra bao giờ. Ra làm gì ?), " Tau ra bưa qua. Ra nhơi nha o tau" ( Tao ra hôm qua. Ra chơi nhà cô tao ). Mọi người xung quanh lắc đầu không hiểu họ nói gì. Tiếp đó, ông hỏi cô mậu dịch viên : " O ban cho tui cây chac điu " ( Cô bán cho tôi cái giây cao su ). Cô mậu dịch viên nghe không hiểu gì, lại tưởng ông là người nước ngoài, bèn lịch sự nói : " Thưa ông, tôi không biết tiếng Nhật ạ".

Hồi đánh Mỹ, có ông Lê Văn Lê Văn Chưu người làng Đai Xá huyện Nghi Lộc làm Bí thư DU Nông trường Quyết Thắng ở Vĩnh Linh ( Quảng Trị ) thích ăn trứng vịt lộn. Nhưng rất ngại dùng tiếng Nghi Lộc để hỏi mua, sợ bị hiểu lầm người ta cười cho, ông buộc từ tốn rành rọt nói trệch đi: " Cô bán cho tôi mấy quả trứng vịt ấp dở".

Nhiều người đặt câu hỏi: Tại sao Nghi Lộc là một huyện nhỏ, nghèo, vậy mà, qua mấy cuộc chiến tranh, lại là một trong những huyện có nhiều Tướng nhất. Cách tiếp cận và giải thích nguyên nhân khá phong phú theo từng góc nhìn: do thế đất, do truyền thống, do phong thủy, do văn hóa, v, v... Nghe ra, đều có lý cả. Nhưng, có một cách giải thích nguyên nhân là do tiếng nói. Lập luận khá chặt chẽ, logic. Này nhé, người Nghi Lộc làm chỉ huy ở mọi cấp đếu có tính cách nóng nảy, quyết liệt. Khi lâm trận, giữa lúc chiến trường mịt mù bom đạn, tình huống xẩy ra bất ngờ chóng vánh, cán bộ cấp dưới ( quê ở vùng khác ) lên xin ý kiến ông chỉ huy là người Nghi Lộc. Nghe xong, ông chỉ huy nói, cấp dưới không hiểu gì, hỏi lại thì sợ bị quát. Thế là, cấp dưới vâng đại cho xong. Còn xử lý tình huống thế nào thì tự giải quyết hợp lý theo điều kiện cụ thể và khả năng của mình. Kết cục, nếu trận đánh giành thắng lợi giòn dã, ông chỉ huy hể hả : " Hăn đanh đung như tau noi". Ngược lại, trận đánh thua, ông quát : " Thua la vì, tau noi một đăng, hăn làm môt neo". Khẩu thiệt vô bằng. Có ai ghi âm lời ông khi lâm trận để làm bằng chứng phân xử đúng sai. Cứ thế, cứ thế... Trong mọi trường hợp, cấp trên bao giờ cũng đúng! ( Việc này, người viết tếu táo cho vui. Đó không phải là sự thật ).

Người Việt học ngoại ngữ khó - càng có tuổi, càng khó; học rồi quên cứ như leo cột mỡ, lên rồi tụt xuống nhiều lần - Nhưng học "nội ngữ" Nghi Lộc thì rất dễ. Đơn giản thôi. Tiếng Việt chỉ cần bỏ hết cả 5 dấu ( sắc, hỏi, huyền, ngã, nặng ) là thành tiếng Nghi Lộc. Không tin, bạn thử nói vài câu xem có đúng không?!
Có lập luận giải thích về việc người Nghi Lộc nói không dấu là: Thuở xa xưa, đã lâu lắm rồi, các ông tổ, bà tổ của các vùng quê nước Việt tập trung tại một nơi để bàn bạc thống nhất ngôn ngữ. Cuối cùng, đến hồi bàn về các dấu ( sắc, hỏi, huyền, ngã, nặng ) là khó nhất. Mọi người đều tập trung cao độ. Riêng ông tổ của Nghi Lộc là một thanh niên thuộc diện ham vui Typn. Ngồi cạnh mấy bà tổ ở Bắc Bộ rất xinh đẹp, ông tổ Nghi Lộc được dịp tán tỉnh say sưa. Đang lâng lâng dạt dào cảm xúc, ông hỏi mấy người phía trước là cuộc họp đang bàn về cái chi rứa. Khi biết là đang bàn về các dấu, ông tổ Nghi Lộc nói: Thôi ! khỏi cần, rối rắm, phức tạp quá. Quê choa cứ để nguyên thế, không cần dấu chi cả, đơn giản dễ nói ! 
Khởi thủy ban đầu là thế. Điều này chỉ để đùa cho vui.
Có một thực tế: Người dân tộc thiểu số và người nước ngoài khi học tiếng Việt đều kêu khó nhất của tiếng Việt là sử dụng các dấu. Chẳng thế mà, khi họ nói tiếng Việt gần giống tiếng Nghi Lộc.

Thực tế, trong khi tra dư tửu hậu có người nói đùa: “ Gốc người Nhật có thể ở huyện Nghi Lộc cũng nên?” . Quả thật, điều này nếu đúng thì thật may. Hậu duệ ở xứ Mặt Trời Mọc giàu có, thông minh, kinh tế phát triển, trình độ khoa học công nghệ cao, mà dành phần đầu tư cho quê cha, đất tổ ở huyện Nghi Lộc thì quí biết chừng nào! 
Nói cho vui thế thôi. Không thể chỉ căn cứ vào ngữ điệu phát âm mà kết luận được. Muốn chứng minh một cách có luận cứ khoa học, thì các nhà: gia phả học, dân tộc học, nhân chủng học, ngôn ngữ hoc,… phải dày công nghiên cứu rất công phu. 
Cách đây đã hơn 20 năm, vào tháng 9/1993, trong một chuyến đi công tác ở Singapore, một hôm tôi và anh Võ Văn Phương, Trưởng phòng Chính sách Cục Tài chính / Bộ Quốc phòng, cùng quê Nghi Lộc, vào siêu thị xem hàng hóa. Khổ nỗi, cả tôi và Phương đều không biết tiếng Anh, tiếng Hoa - hai ngôn ngữ chính ở Singapore. Khi chuẩn bị vào mua một chiếc Cát sét, anh em xì xồ nói chuyện với nhau bằng tiếng Nghi Lộc. Người bán hàng hỏi: Japanis ? Phương nói: Việt Nam! Nghe xong, người bán hàng vui vẻ giơ lên giơ xuống cả hai tay. Phương hỏi tôi, nó nói cái gì đấy anh. Tôi bảo, chắc nó bảo Việt Nam ta đang phát triển mạnh từ sau Đổi mới!
Buồn cười nhất là khi hỏi giá tiền. Trước khi đi siêu thị, anh Hoàng thành viên phiên dịch trong Đoàn công tác bày cho Phương vài câu tiếng Anh. Và anh Hoàng dặn thêm, ở đây họ dùng hai loại tiền: Đô la Singapore và Đô la Mỹ. Dọc đường đi, Phương lẩm nhẩm mấy từ mua hàng. Thế nhưng khi hỏi giá, Phương quên hẳn, ngẩn mặt như ngỗng ỉa, rặn ra được mấy từ : Hau - mát - đô la - Oasinhtơn ? ( Có thể, lúc ấy do Phương nhìn thấy trên đồng Đô la Mỹ có ảnh Cố Tổng thống Oa - Sinh - Tơn mà hỏi vậy). Người bán hàng trố mắt ô, ô, ô…ra điều không hiểu ông Việt Nam này định nói gì. Về nhà, tôi kể lại chuyện này, mọi người cười đau cả ruột.
Lần khác, anh Phương đến làm việc với Cục Chính sách. Khi xong công chuyện, Phương tạt vào phòng tôi nói: "Anh Đẩu ạ, hôm nay ta nói với nhau một bữa tiếng Nghi Lộc cho thật sướng, chán mồm thì thôi ". Vậy là, anh em bù khú hết chuyện này sang chuyện khác một cách thoái mái. Khi cô văn thư lên chuyển công văn, thấy lạ hỏi: “ Các anh nói chuyện với nhau bằng tiếng nước nào đấy? Nhật Bản à?". 
Chuyện vui về “ đặc sản” tiếng Nghi Lộc quê tôi thì lắm lắm.
Nguyễn Mạnh Đẩu


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin mới gửi

Đăng ký thành viên

Thăm dò ý kiến

Theo bạn website này:

Giao diện đẹp, bố trí hợp lý

Mọi thứ tạm ổn

Cần bổ sung chức năng diễn đàn

Cũng bình thường

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 37


Hôm nayHôm nay : 2236

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 55394

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11993989