Doanh nghiệp giới thiệu

Tổng Công ty 36
Công ty Nano
Áp lực Đông Anh
An Phát
Công ty Sigma Việt Nam
Công ty Cổ phần thiết bị giáo dục và Khoa học kỹ thuật Ngân Hà

Liên kết website

Nghi Lộc 1
Khóa 70-73
Du lịch Cửa Lò
Vũ Đăng Hiến
Nguyên Hùng
Lê An Tuyên

Trang nhất » Tin Tức » Văn - Thơ - Nhạc

Đăng bài viết

TỪ LỄ HỘI ĐỀN NGUYỄN XÍ-2018, NGƯỢC VỀ 600 NĂM KHỞI NGHĨA LAM SƠN CHỐNG XÂM LƯỢC MINH

Thứ năm - 22/03/2018 21:37



Giao Hưởng


“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ
Bọn gian tà bán nước cầu vinh” 
(Đại Cáo Bình Ngô)

Ngày mồng 4 tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418) tại vùng núi Thanh Hóa, chủ soái Lê Lợi cùng 18 anh hùng hào kiệt-trụ cột của quân khởi nghĩa giết voi lấy máu ăn thề, sử sách gọi là Hội thề Lũng Nhai:

"Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống"

Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh trải suốt 10 năm ròng:

"Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo."

Trận đại thắng Xương Giang 1427 đã kết thúc cuộc kháng chiến chống xâm lăng giữ nước liệt oanh thế kỷ 15:

"Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc"

Ngày 24/4/1428 Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, Nguyễn Xí được phong Long Hổ thượng tướng quân, Suy Trung bảo chính công thần, tước huyện hầu. Năm 1429 vua cho khắc biển công thần, xếp ông vào hàng thứ 5 và ban quốc tính (họ Lê).

Suốt 10 năm cùng chủ soái Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn “nếm mật nằm gai” kháng chiến giải phóng dân tộc, tiếp đến 38 năm (1428-1465) là trụ cột dưới 4 đời vua triều Hậu Lê (Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông), Danh tướng-Danh thần Nguyễn Xí (1397-1465) được lịch sử dân tộc và người đời tôn vinh đặc biệt “người hai lần khai quốc”.

GIA THẾ

Khoảng nửa sau TK 14, cụ Nguyễn Hợp cùng con trai thứ 2 Nguyễn Hội rời làng Cương Gián (nay là xã Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) ra làng Thượng Xá (nay là xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An). Tại đây bố con cụ Nguyễn Hợp cùng cư dân làng khai khẩn mở mang nghề làm muối, vợ chồng ông Nguyễn Hội-bà Vũ Thị Hạch sinh hạ hai con trai là Nguyễn Biện (SN 1394) Nguyễn Xí (SN 1397).

Năm Nguyễn Xí lên 9 tuổi, trong vòng một tháng rưỡi, hai anh em mồ côi cả cha lẫn mẹ, cụ Nguyễn Hợp lâm cảnh “lá xanh rụng trước lá vàng”, dù tuổi già sức yếu vẫn cưu mang hai cháu mồ côi.“Mùa đông, năm Bính Thân (1416) vua Thái Tổ cùng 18 vị tướng thân cận của nhà vua, liên danh hội thề nguyện sống chết có nhau” (Đại Việt thông sử). Năm 1418 Lê Lợi cùng các thuộc tướng dấy cờ khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược, hai anh em Nguyễn Biện, Nguyễn Xí có mặt từ ngày đầu. Theo sách Lam Sơn thực lục, năm 1419 nghĩa quân“chịu khổ,đói rét vất vả, hơn mười ngày liền đào củ nâu ăn cầm hơi...người, ngựa đều khốn đốn”, phải rút về núi Chí Linh cố thủ. Truyền rằng, giữa tình thế quân giặc siết chặt vòng vây, Lê Lai xung phong cải trang làm Lê Lợi, cùng Nguyễn Biện chỉ huy 500 quân cảm tử đánh thẳng vào đội hình giặc, mở đường máu để Lê Lợi và nghĩa quân thoát hiểm, Lê Lai cùng phần lớn cảm tử quân hy sinh, Nguyễn Biện bị địch bắt hành quyết ngày 27/8 âl, đến nay mộ phần chưa rõ ở đâu. Tướng Nguyễn Xí may mắn trọn 10 năm nếm mật nằm gai và đi đến thắng lợi cuối cùng. Trong trận đánh cuối cùng tầm chiến lược diễn ra tại Xương Giang, ông cùng tướng Đinh Liệt chỉ huy 3000 quân, 4 thớt voi, phối hợp với các cánh quân khác làm nên chiến thắng vang dội, kết thúc thắng lợi cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn, đưa đất nước thoát khỏi 20 năm dưới ách thuộc Minh.

Năm 1433 Lê Thái Tổ từ trần, tuân theo di chiếu của vua, Nguyễn Xí cùng các trụ cột triều đình lập Thái tử Nguyên Long mới 10 tuổi lên ngôi tức Lê Thái Tông, Nguyễn Xí được cử làm Phụ nhiếp chính (giúp vua điều hành công việc triều chính). Năm 1437 ông giữ chức Tham tri chính sự coi việc tố tụng; Năm 1445 được cử làm Nhập nội Đô đốc; Năm 1448 làm Thiếu bảo coi việc quân dân.

Tháng 10 năm 1459 triều đình xảy ra biến lớn: Lê Nghi Dân con của Thái Tông, anh của Nhân Tôn, kết với bọn Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng, đang đêm vào cung cấm giết vua, cướp ngôi, Nghi Dân lên ngôi đặt niên hiệu Thiên Hưng. Các đại thần Đỗ Bí, Lê Thụ, Lê Ngang mưu lật đổ vua Thiên Hưng, việc bại lộ đều bị giết. 
Nguyễn Xí bàn mưu với Lê Lăng (con Lê Triện), Lê Niệm (cháu nội Lê Lai) lật đổ Nghi Dân lần nữa. Ngày 6 tháng 6 âm lịch năm 1460 Nguyễn Xí phát động binh biến, chém bầy tôi thân cận của Nghi Dân là Phạm Đồn, Phan Ban ở nghị sự đường, nắm lấy cấm binh, đóng chặt cửa thành, sai Lê Ninh Thuận bắt vây cánh và phế vua Thiên Hưng làm Lệ Đức hầu, rước con út của Thái Tông là Tư Thành lên ngôi, tức là vua Lê Thánh Tông nổi tiếng trong lịch sử Việt NamKhông nỡ để vương triều-đất nước rơi vào tay những kẻ tài hèn đức kém, Nguyễn Xí giả mù. Để cho Nghi Dân và bọn Đồn, Ban tin “lão già 62 tuổi đã mù thật”, để đánh lừa đám nghịch thần ông dằn lòng dẫm chết người con trai út mới mấy tháng tuổi. Ngày 6/6 năm Canh Thìn (1460) ông khởi sự trừng trị bọn phiến loạn, phế bỏ Nghi Dân, lập Tư Thành con trai thứ của Thái Tông lên làm vua, tức vua Lê Thánh Tông. 
Cuộc “chỉnh đốn nội triều” (thời hiện đại gọi là phản đảo chính) do đại thần Nguyễn Xí lãnh đạo, đưa Lê Thánh Tông lên ngôi trị vị 37 năm (1460-1497), Đại Việt nhờ có minh vương nên tiếp tục phát triển cường thịnh. Năm 1460 Nguyễn Xí được đặc phong làm Khai phủ Nghi đồng, Tam ty nhập nội kiêm hiệu Thái phó, Bình chương quân quốc trọng sự, Á Quận hầu, đứng đầu hàng văn võ đại thần, tiếp được phong Sái Quận công, Nhập nội Hữu tướng quốc, rồi Thái uý, ông trở thành đệ nhất công thần triều Lê Thánh Tông. Năm 1462 Lê Thánh Tông có bài Chế ca ngợi ông (trích): 
“Xét Nguyễn Xí đây khí độ trầm hùng, tính người cương đại...Ra vào hết chức phận tướng văn tướng võ. Trước sau giữ trọn tiết làm tôi, làm con. Giữ mình có đạo, hồn nhiên như ngọc chẳng khoe tươi. Nghiêm mặt ở triều lẫm liệt như thanh gươm mới tuốt. Các quan đều ngưỡng mộ phong thái. Bốn biển đều ngưỡng vọng uy thanh...” Vua còn tặng ông đôi câu đối: Bình Ngô khai quốc Tịnh nạn trung hưng. 
Từ sau cuộc “xoay núi” thành công này, trong dân gian lưu truyền câu: 
Thiên hạ chưa yên mắt lão mù
Thiên hạ yên rồi mắt lão sáng
Việc đời như thế bèo chuyển xoay
Giã chè uống nữa tai nghe vắng.

TRUNG QUÂN ÁI QUỐC

“Trung quân ái quốc” là tư tưởng chủ đạo của chế độ quân chủ tập quyền-một hình thái ý thức xã hội mà sinh thời ông cống hiến phụng sự. “Trung quân ái quốc” cũng là lý tưởng xuyên suốt các triều đại phong kiến Việt Nam trước và sau thế kỷ 15. Giữa bức tranh rộng lớn nhưng vô cùng phức tạp ấy, hiện lên chân dung-cuộc đời-sự nghiệp lẫy lừng của Danh tướng Nguyễn Xí. Chữ “Xí” tên ông, chiết tự Hán Nôm nghĩa là ngọn lửa rực sáng; trên thực tế 620 năm trước, làng Thượng Xá địa linh đã sinh ra một nhân kiệt xuất. Có thể khẳng định, từ khi nước nhà bước sang kỷ nguyên độc lập với đại thắng Bạch Đằng năm 938, đến nay đã 11 thế kỷ, ông là nhân vật lịch sử duy nhất được cuộc đời vinh danh “người hai lần khai quốc”. Là nhà lãnh đạo xuất sắc trong cuộc “chỉnh đốn nội triều”, lấy ích quốc lợi dân và quyền được sống của con người làm mục đích tối thượng, ông là đấng công thần khai quốc duy nhất được vua Lê Thánh Tông đặc ân mời tham gia triều chính. Với cương vị Phụ nhiếp chính chỉ đứng sau vua, ông là nhà chính trị xuất sắc, song, trước bá quan văn võ ông là “ngọc chẳng khoe tươi”, từ những cống hiến to lớn nêu trên, sau khi mất ông được người đời suy tôn “người hai lần khai quốc”. Với 38 năm làm quan (1428-1465)-gần 2/3 cuộc đời gắn với chốn quan trường, “ra vào hết chức phận tướng văn tướng võ, trước sau giữ trọn tiết làm tôi”, ông đã phải chứng kiến sóng dồi nước non diễn ra đằng sau tấm màn nhung vương triều, ở đó không ít bậc trung thần bị chết oan khốc, ở đó bao nước mắt đành phải lặn vào tim. 
Với số hàng binh quân Minh quân Chiêm xin được ở lại đất Đại Việt , ông phát huy truyền thống nhân văn của dân tộc chỉ đánh kẻ chạy đi cứu người chạy lại, ông tâu xin Vua rộng lượng cho các hàng tướng người Minh là Nguyễn Sĩ, Nguyễn Tiềm; hàng tướng người Chiêm là Chế Hiệp, Chế Lân, Chế Đá ở lại Đại Việt làm ăn. Ngoài số lộc điền triều đình đã ban cấp cho ông lên tới 1135 mẫu trên địa phận 96 xã, thuộc các vùng Nghệ An, Thanh Hoá, Sơn Nam, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, ông còn bỏ tiền mua trên 760 mẫu ở trong và ngoài vùng Thượng Xá để cho số hàng binh Minh, Chiêm về đó cày cuốc làm ăn. Từ Thăng Long, ông cử con trưởng là Thái úy Sư Hồi, con trai thứ 5 là Thái bảo Kế Sài mang theo vợ và con nhỏ về quê, thay ông lo công viêc giáo dưỡng cảm hóa số hàng binh, cho họ sống xen với các gia đình cư dân và các con cháu của ông, giúp họ khai phá đất hoang ổn định cuộc sống, cho phép họ lập gia đình với cư dân bản địa, ông còn nhận hai hàng tướng Chiêm Thành làm con nuôi. Đang thân phận kẻ “vô gia cư”, đông đảo hàng binh nhà Minh nhà Chiêm hân hoan đón nhận tấm lòng trời biển của ông, họ tự giác phấn đấu và trở thành công dân Đại Việt, góp phần xây dựng xóm làng. 
Ông có 15 con trai (con đẻ), 3 người con nuôi là hàng binh mang họ Uông, Đặng, Chế. Ngày 30/10 năm Ất Dậu (1465) ông từ trần tại tư dinh ở Thăng Long, hưởng thọ 69 tuổi. Nghe tin ông mất vua Thánh Tông buồn than "Từ khi khai quốc đến nay chẳng ai được như ngươi", 3 ngày liền vua bỏ ngự triều. Linh cữu ông được quàn tại điện Kính Thiên, trước ngày phát tang các quan văn võ đại thần đều có mặt đông đủ tiến hành Lễ tế theo nghi thức Quốc tang, triều đình đứng ra lo liệu chuyển linh cữu ông về quê làng Thượng Xá an táng. Nhà vua truy phong ông chức tước "Thái sư Cương quốc công, Đặc ân khai quốc, Thụy Nghĩa vụ". 
Năm 1467 sau kỳ mãn tang, vua cho dựng Đền thờ ông theo chế độ Quốc lập Quốc tế (nhà nước dựng nhà nước tế tự), đồng thời sai Trạng nguyên Nguyễn Trực viết bi ký khắc vào đá. Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, hiếm có bề tôi nào đến tận những ngày cuối đời vẫn được nhà Vua kính yêu, chăm sóc chu đáo như ông, các triều vua sau tiếp tục chiếu chỉ truy phong ông "Thượng thượng đẳng tôn thần". 
Trước tới nay Cương Quốc Công Từ (đền thờ Cương Quốc Công), cách nói dân gian là Đền thờ Nguyễn Xí, về quy mô kiến trúc và quy mô tâm linh đều vào hàng bậc nhất trên đất Nghệ An. Tại Đền thờ có 3 bia đá Thái sư Cương Quốc Công Di huấn; Thái sư Cương Quốc Công bi ký; Tự điền cận hiệu tịnh miếu quy chế, do vua Lê Thánh Tông sai Trạng nguyên Nguyễn Trực phụng soạn . Ngoài hoành phi câu đối của vua Lê Thánh Tông, rất nhiều hoành phi câu đối của khách thập phương và con cháu các đời cung tiến, trong đó có câu:
Bát loạn yên dân, Nguyễn tướng uy hùng dương Bắc địa 
Bình Ngô khai quốc, công thần cảnh liệt chấn Nam thiên
(Tạm dịch: 
Nguyễn tướng quân dẹp loạn yên dân, vang lừng trên đất Bắc
Trung thần bình Ngô dựng nước, oanh liệt rộn trời Nam)
Năm 1990 Bộ Văn hoá xếp hạng Đền thờ là Di tích Lịch sử-Văn hoá quốc gia. Vào dịp đầu Xuân từ 30 tháng Giêng đến mồng 2/2 âm lịch hàng năm, chính quyền tỉnh, huyện, xã Nghi Hợp cùng con cháu 15 đại Chi họ Nguyễn Đình Thượng Xá và 3 đại Chi con nuôi, long trọng tổ chức “Lễ hội Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí”. Để thay lời kết, xin chép đôi câu đối của minh vương Lê Thánh Tông viết năm 1467 dịp lập dựng Đền thờ ông: 
Hà nhật tinh thiên thu chính khí
Phụ tử huynh đệ vạn cổ anh phong
(Tạm dịch: Sông núi trời sao ngàn thu hùng khí. Cha con anh em muôn thuở anh hào)


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin mới gửi

Đăng ký thành viên

Thăm dò ý kiến

Theo bạn website này:

Giao diện đẹp, bố trí hợp lý

Mọi thứ tạm ổn

Cần bổ sung chức năng diễn đàn

Cũng bình thường

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 85


Hôm nayHôm nay : 698

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 16921

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11916938