Doanh nghiệp giới thiệu

Tổng Công ty 36
Công ty Nano
Áp lực Đông Anh
An Phát
Công ty Sigma Việt Nam
Công ty Cổ phần thiết bị giáo dục và Khoa học kỹ thuật Ngân Hà

Liên kết website

Nghi Lộc 1
Khóa 70-73
Du lịch Cửa Lò
Vũ Đăng Hiến
Nguyên Hùng
Lê An Tuyên

Trang nhất » Tin Tức » Văn - Thơ - Nhạc

Đăng bài viết

Võ Minh - "MỘT THỜI LÀ HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG CẤP 3 NGHI LỘC 1"

Chủ nhật - 23/10/2016 10:11


“Trường phổ thông cấp 3 Nghi Lộc 1” nay là Trường trung học phổ thông Nguyễn Duy Trinh, Nghệ An. Cái tên ấy đã in sâu trong tâm trí mà tôi đã mang theo suốt cả cuộc đời. Bởi đấy là ngôi nhà yêu quý của tôi. Nơi đã góp phần thổi lên ngọn lửa trong tôi bừng sáng Tâm, Đức, Trí, Dũng.

 Nhớ về một sáng mùa hè năm 1967. Khi những chuỗi âm thanh xèn xẹt, rin rít, vun vút đặc kín bầu trời rồi vụt xuống mặt đất nổ “oàng, oàng…” từng chùm, từng chùm liên hồi của đạn pháo Hạm đội 7, Hải quân Mỹ ở từ ngoài biển bắn vào vừa dứt. Nhưng vẫn còn đâu đó những tiếng “ùng, oàng” của bom Mỹ ném xuống các khu vực xung quanh, những tràng tiếng nổ râm ran “phầm, phầm, phầm… bục, bục, bục…” của các chủng loại súng phòng không dưới mặt đất đồng loạt bắn lên vọng về. Lúc đó tôi chỉ là đứa trẻ mới bước vào tuổi mười lăm, cùng bạn bè trong huyện Nghi Lộc, vượt qua mọi sợ hãi để về trường tập trung nhận phân chia lớp, chuẩn bị cho ngày khai giảng bước vào năm học mới. Khó có thể diễn tả được niềm sung sướng, hồi hộp, háo hức, hạnh phúc lâng lâng kèm theo một chút tò mò, ngơ ngác, lo lắng, sờ sợ của tôi ngóng chờ những phút giây trọng đại đang đến. Bởi, tôi là tân học sinh lần đầu tiên về trường nhập học.

Tất cả học sinh cũ mới chúng tôi, độ khoảng trên dưới sáu trăm người, phân chia theo 3 khối: 8,9,10. Mỗi khối 4 lớp A,B,C,D. Nghiêm chỉnh, tề tựu dưới những rặng cây phi lau nằm trên cồn cát thuộc xã Nghi Trung, bên cạnh con đường Cửa Lò – Quán Hành rất gần với cầu Nhọn. Ngay phía trước nơi chúng tôi đứng tập trung có mấy lán tạm nhà tranh của Ban giám hiệu và các thầy cô làm việc. Đấy là Trường Phổ thông cấp 3, Nghi Lộc 1.

Những tiếng cười, tiếng nói í ới gọi nhau, tiếng thình thịch của những bước chân tìm về lớp mình nghe rào rào, ngỡ như phá vỡ cả một vùng không gian khi vừa lặng im tiếng bom đạn. Nhưng rồi những âm thanh ấy bỗng dưng tắt lịm, thay vào đó là tràng vỗ tay kéo dài, khi trên khán đài vừa xuất hiện một người đàn ông thâm thấp, mái đầu bạc trắng, nhưng có gì đấy toát lên một uy lực mà không dễ mấy người có được. Với dáng đi khoan thai người Thầy hướng về chúng tôi, tươi cười, vẫy tay ra hiệu cho phép chúng tôi ngồi xuống. Đấy là thầy Hiệu trưởng Nguyễn Trọng Bình.

Lần đầu tiên tôi được trực tiếp lắng nghe những lời chúc mừng, căn dặn, động viên của Thầy đến với tân học sinh chúng tôi và tất cả mọi người. Vừa im lặng lắng nghe tôi vừa quan sát kỹ về dung nhan gương mặt phúc hậu của Thầy. Về cái miệng, đôi mắt có nụ cười nhân từ. Sao mà nó thân thiện, ấm áp, chứa chất đầy tình người, tình thầy trò và tình cha con đến thế.

 Với giọng nói sang sảng, Thầy nói liên tục không giấy bút, nhưng rành mạch cho từng mục, từng vấn đề cụ thể cho các tập thể, thầy, trò phải làm trong năm học mới: “Thầy có một linh cảm rằng, tới đây máy bay Mỹ sẽ tập trung đánh phá hai trọng điểm ga Quán Hành và Cồn Vàng. Nơi ta đang đứng đây lại nằm kẹt sát giữa hai trọng điểm đó. Để đảm bảo được an toàn cho các em và các thầy cô cũng như các cơ sở vật chất ít ỏi của trường. Ngay sau ngày hôm nay, trường ta sẽ di chuyển về khu vực cồn đất hoang cạnh gần với nhà thờ Làng Nam, nằm sâu ở phía bên đường sau lưng các em. Đấy! Kia kìa… Chóp trăng trắng nhà thờ nhô lên cao đó!”  – Thầy vừa nói vừa lấy tay chỉ cho chúng tôi thấy. Rồi tiếp tục lý giải: “Ban giám hiệu đã cân nhắc chọn địa điểm này là có lý do của nó. Bởi máy bay Mỹ hầu như không ném bom vào khu vực nhà thờ!”.

Vậy là ngay từ những ngày đầu vào nhập học ở trường, chúng tôi hăng hái mang vác những cây tre, lá tranh, tấm gỗ… ở nhà đến trường. Ai có khả năng đóng góp được bao nhiêu đều cố gắng mang đến hết. Tất cả tập trung dành cho việc xây lại ngôi trường mới. Nhưng để kiến tạo nên những công trình đó, ngoài việc quyên góp về vật chất, những đứa trẻ chúng tôi còn phải đào hầm, xây lũy, dựng lán trại làm lớp học bán chìm bán nổi so với mặt đất. Ban Giám hiệu và khối 9,10 nằm ở Làng Nam. Còn qua bên kia cánh đồng nước là Khối lớp 8 chúng tôi với bốn lớp: A, B,C,D. Vị trí đấy thuộc Xóm Một, xã Nghi Trung. Việc này đã gây rất nhiều phiền phức và khó khăn cho các thầy cô di chuyển giữa các khối khi dự giờ. Nhưng trong những ngày tháng ấy, tình người trong các thầy cô, trong chúng tôi luôn trào dâng không thể nào tả được. Phải chăng? “Mình vì mọi người và mọi người vì mình” đã thực sự hiện hữu trong từng con người trong thời kỳ khó khăn ấy. Và nó đã đẩy vọt cao độ lên khi hiểm nguy đến với thầy trò chúng tôi.

Đó là một buổi sáng tháng 3 năm 1968, khi khối 8 đang vào lúc cận kề thời khắc nghỉ giữa hai tiết học. Lớp 8B chúng tôi cũng đang bắt đầu chuyển sang trạng thái ồn ào, rục rịch ra ngoài chơi. Bỗng nhiên từ đâu những âm thanh xèn xẹt gầm rú xé rạch trời của máy bay Mỹ lao đến ở trên đầu nổi lên, kèm theo sau đó là những tiếng “oàng oàng” long trời lở đất của những chùm bom vừa rơi xuống nổ ngay bên cạnh lớp học. Mặt đất dưới chân chúng tôi bất ngờ giật nẩy lên từng đợt, từng đợt rùng rùng rung chuyển, kéo theo tất cả thầy trò và đồ vật, bàn ghế lắc lư chao đảo quay vòng theo. Cả không gian bỗng dưng tối sầm lại, như bịt mắt tất thảy mọi người. Mặc dù trước đó ở ngoài trời cái nắng trưa sáng chiếu còn đang chế ngự. Rồi tiếp đến những tiếng bịnh, bịch to, nhỏ… của những tảng đất đá, cây cối thi nhau rơi xuống đất ầm ầm xung quanh, gầm rú như con bão lớn đang đổ ập đến, phả ra mùi khét lẹt. Theo phản xạ tự nhiên, tất cả chúng tôi không ai bảo ai đồng loạt chui tọt xuống gầm bàn nằm áp người xuống mặt đất. Cũng ngay sau khoảnh khắc đó, một vật gì khá to cắt qua mái tranh cắm “phập” xuống mặt đất ngay lối đi giữa lớp. Đất cát rơi đầy bay kín đặc cả không gian lớp học.

Mọi âm thanh bên ngoài giờ đã dần lặng im. Khói bụi đang tan, trời sáng trở lại và cái nắng chói lòa bỗng dưng tràn ngập ngay trong lớp học của thầy trò chúng tôi, khi một mái tranh trên đầu đã bật tốc toang hoác. Với mái tranh còn sót lại, đặc đầy những lỗ thủng nhỏ to để cho ánh nắng xuyên  thẳng vào. Đến lúc này chúng tôi sửng sốt khi vừa nhìn rõ vật thể vừa rơi. Đấy là một mảnh bom to như con dao phay, màu xám xịt cắm sâu xuống mặt đất, nằm cận kề cạnh đầu thầy Vũ Đức Phước và không xa với vị trí nơi tôi đang nằm. Thật hú vía! Thầy trò chúng tôi thật sự sợ và hoảng loạn, và những tiếng khóc gần như đồng loạt bật lên. Nhưng không lâu ngay sau đó tiếng thầy Phước vang lên: “Các em kiểm tra lại có bạn nào bị gì không?”.

Một cái gì đấy như đánh thức chúng tôi đang chìm trong sợ hãi. Chúng tôi sực tỉnh để kiểm tra mình, kiểm tra bạn bè xung quanh. Thật may mắn làm sao, sau trận bom vừa nổ bên cạnh, thì thầy trò chúng tôi vẫn còn vẹn nguyên. Khi đã trấn tĩnh lại chúng tôi mới biết được sự may mắn thoát chết trong gang tấc của mình. Nếu như trước và sau thời điểm đó một chút thôi, thầy cho chúng tôi nghỉ giữa tiết sớm hơn để ra ngoài. Hoặc máy bay Mỹ dội bom xuống muộn hơn ? Nếu như không có lũy đất bao quanh đắp cao quá đầu người ngồi bên trong? Những quả bom đó rơi dịch vào… ? Thần chết đã tha cho thầy trò chúng tôi diệu kỳ như vậy đó.

Chiến tranh ngày một leo thang, bom đạn Mỹ trút xuống miền Bắc ngày một nhiều, cái chết bất ngờ luôn rình rập đến những người dân vô tội. Trước nguy cơ thảm họa ấy, trường ta lại một lần nữa di chuyển sang địa điểm mới để đảm bảo tuyệt đối an toàn tính mạng cho thầy và trò. Đó là vùng rừng núi miền Tây, Nghệ An.

Để có được nơi xây dựng trường mới, thầy Hiệu trưởng Nguyễn Trọng Bình đã một mình đạp xe hơn cả trăm cây số, vượt qua các dốc đèo, các trọng điểm đánh phá ác liệt của bom đạn Mỹ. Không ít hơn một lần Thầy đã thoát chết trong gang tấc. Sáng hôm ấy khi Thầy vừa đạp xe vừa qua khỏi cầu Mưỡi thì bom dội xuống nổ ngay sau lưng. Nhưng vì học sinh yêu quý, Thầy đã gạt bỏ mọi hiểm nguy đến tính mạng mình để tiếp tục guồng xe đạp đến nông trường Sông Con rừng núi xa xôi. Nơi cho thầy trò trong trường có được chỗ tránh bom đạn, để còn kịp vào khai giảng năm học mới cho đúng hạn.

Song nơi đấy vẫn có những khó khăn, hạn chế nhất định cho nhà trường làm nơi trú chân.Trong tâm niệm của Thầy không muốn học sinh mình đang chịu muôn vàn khó khăn lại chồng chất thêm gánh nặng nữa. Mặc cho nguy hiểm khó khăn, đường xá xa xôi giăng đầy phía trước, lại một lần nữa Thầy đạp xe ngược lên miền núi tìm địa điểm mới. Đó là Nông trường Đông Hiếu, huyện Nghĩa Đàn làm cơ sở để đưa học sinh lên sơ tán. Thật may mắn làm sao, nơi đây lại là địa điểm hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” cho thầy trò trường phổ thông cấp 3 Nghi Lôc 1 đang cần vào lúc gặp khó khăn nhất.

Dù vị trí này cách trường đang ở xa đến cả trăm cây số. Nhưng đấy vẫn là vị trí gần nhất so địa điểm Nông trường Sông Con. Ở nơi đây, thầy trò trường ta được Ban giám đốc Nông trường Đông Hiếu cũng như các Đội sản xuất và các gia đình công nhân đùm bọc, che chở hết lòng. Các tổ chức và những con người ở đó đã hỗ trợ, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi về nơi ăn chốn ở, nơi giảng dạy cho thầy trò ngay từ ngày đầu vừa đặt chân lên đấy. Công lao đầu tiên phải nói đến anh hùng lao động Nguyễn Văn Lang, Phó giám đốc nông trường Đông Hiếu.

Để có được những cơ hội may mắn này, ta càng hiểu thêm về sự linh hoạt đầy sáng tạo của thầy hiệu trưởng Nguyễn Trọng Bình. Con người luôn chứa ắp đầy mình một tâm niệm “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Nhưng để tổ chức di chuyển, và phải đảm bảo tuyệt đối an toàn cho cả gần một ngàn người, chủ yếu là những đứa trẻ mới hơn chục tuổi đầu, ở thôn quê chưa một lần xa nhà và phải còn kèm thêm một số lượng cơ sở vật chất thiết yếu. Rồi còn phải vượt qua sông suối, dốc đèo với quãng đường dài đến cả trăm cây số. Đặc biệt dọc đường đi còn phải tránh được nguy hiểm đạn bom. Đến nơi mới phải kịp thời tổ chức, ổn định được nơi ăn chốn ở cho thầy trò, làm bàn ghế lán trại cho lớp học để cho kịp ngày khai giảng đầu năm học mới. Một bài toán cực khó đặt ra không dễ dàng để giải. Nhưng thầy Hiệu trưởng, người Tổng chỉ huy của chúng ta đã làm tốt điều đó.

Đầu tiên là Thầy tổ chức sắp xếp các tổ, bộ phận cần thiết theo yêu cầu thực tế. Sau đó giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thầy, cô, khối, lớp một phải triển khai công việc kịp thời, phối hợp nhịp nhàng với nhau. Đồng thời không ngừng tranh thủ khai thác, tận dụng nguồn sức mạnh trong các cơ quan đoàn thể, trong những người dân mộc mạc, chân chất Nghi Lộc quê mình. Chính những con người ấy đã góp một phần rất lớn cho thầy trò trường ta vượt qua được những tháng ngày bĩ cực sống dưới đạn bom.

            Tổ công tác đi tiền trạm đầu tiên là do các thầy Nguyễn Xuân Nguyên, Vũ Đức Phước, Hoàng Minh Thu kéo theo một dàn thợ cưa lên Nông trường Đông Hiếu, chặt những cây gỗ lớn xẻ thành tấm làm bàn học, dựng lán làm lớp học dọc theo bờ suối. Lo lương thực, chạy gạo hàng tháng cho học sinh là do thầy Hoàng Thanh Sơn đảm nhiệm. Việc dẫn dắt những đứa trẻ từ miền quê Nghi Lộc lên Nghĩa đàn sơ tán do một số cán bộ cấp huyện, xã. Đặc biệt còn có rất nhiều phụ huynh xung phong tham gia hỗ trợ rất nhiệt tình, tích cực.

Cuộc đại hành quân của thầy trò từ huyện Nghi Lộc lên Nghĩa Đàn được chia làm ba mũi khác nhau. Mũi một lội bộ qua sông Cấm sang xã Nghi Thiết, khi thủy triều vừa rút xuống. Mũi hai chạy bộ qua cầu Cấm khi máy bay Mỹ không hoạt động. Mũi ba đi bộ qua xã Nghi Phương để sang bên kia huyện Yên Thành. Và chỉ có mấy ngày sau đó, tất cả thầy trò của trường đã có mặt đầy đủ ở các đội sản xuất thuộc Nông trường Đông Hiếu, cùng với một số phụ huynh tự nguyện lên đây tham gia vào công việc mới. Như vào rừng chặt gỗ, cắt cỏ tranh dựng lán trại làm lớp học.

Phải nói rằng, trong những tháng ngày ở nơi sơ tán của trường ta vẫn đảm bảo chương trình chất lượng giảng dạy, đủ giờ và đúng tiến độ như kế hoạch của Bộ Giáo dục đã đề ra. Đặc biệt là thầy trò đã an toàn, ngoạn mục vượt qua những khó khăn gian khổ đủ bề mà không dễ những ai ở trong hoàn cảnh ấy cũng vượt qua được. Tình người, tình thầy trò, tình bạn bè thực sự đậm đà, gắn kết sâu nặng trong từng người từ những ngày ấy cho đến bây giờ và mãi mãi về sau không bao giờ phai nhạt. Và thực tế đã chứng minh điều đó qua mỗi lần thầy trò, bạn bè gặp nhau. Hoặc có ai đấy nhắc đến tên Trường phổ thông cấp 3 Nghi Lộc 1.

Năm 1969, chiến tranh đánh phá miền Bắc của giặc Mỹ đã tạm ngưng. Trường chúng ta lại trở về làng Nam, xã Nghi Trung xây dựng mới. Phải bắt đầu lại một lần nữa, thầy trò từ hai bàn tay trắng, khối óc, con tim, sức lực cùng nhau chung sức xây dựng những lán trại trên nền cũ lớp học ngày nào. Rồi nhà trường tổ chức cho khối 10 thi tốt nghiệp. Khối 8, 9 thi kết thúc năm học cuối năm. Tuyển học sinh mới vào học khối 8. Tất cả những nhiệm vụ đó trường ta đều đạt kết quả cao. Những ai đã từng là học sinh thời đó đều thấm thía một điều.“Ngày ấy để nhặt được một chữ thầy cho là rất khó, vất vả đủ bề. Chỉ cần một chút sơ sểnh, lơ đãng không tập trung thì con chữ bị rơi cuốn bay biến đi đâu mất”. Bởi trong những năm tháng đó, năm tháng của chiến tranh đói khổ, bão giông bom đạn vây bủa tứ bề.

Và cũng trong những năm tháng ấy, có rất nhiều học sinh gần đủ và đủ tuổi nghĩa vụ quân sự phải đột ngột dừng bút nghiên lên đường ra trận. Cứ độ mấy tháng trường ta lại có một cuộc chia tay tiễn đưa đầy lưu luyến bùi ngùi. Rồi thỉnh thoảng có tin vui của các anh từ chiến trường bay về, những tin buồn khi nhà trường tổ chức truy điệu liệt sĩ. Các anh ấy là học sinh của Trường phổ thông cấp 3 Nghi Lộc 1 đã hy sinh ở nơi chiến trường xa ầm ầm bom đạn.

Chiến tranh ở mặt trận phía Nam ngày càng càng ác liệt hơn. Biết lúc nào mới chấm dứt? Bây giờ đến lượt tôi và các bạn Trần Ngọc Nam, Trần Văn Hồng, Nguyễn Văn Quế, Hoàng Văn Sửu, Nguyễn Gia Thìn ở hai lớp 10A, 10B lại phải chia tay thầy cô kính yêu, bạn bè quý mến, tạm biệt mái Trường phổ thông cấp 3 Nghi Lộc 1 thân yêu để lên đường ra trận, tiếp bước những người đi trước.

Suốt cả chặng đường hành quân cuốc bộ, mang vác nặng, vượt qua bao dãy núi Trường Sơn hùng vĩ, với bao vất vả, khó khăn, gian khổ đủ bề. Lội suối, trèo đèo, leo qua những con dốc cao dựng đứng chọc trời. Đã có lúc chúng tôi tưởng chừng như không vượt qua nổi giới hạn sức chịu đựng của con người. Tuy vậy, chỉ cần một lúc nào đấy được nghỉ ngơi thì tôi cùng các bạn Hồng, Nam, Quế, Thìn tìm đến nhau tụ lại. Rồi lại quên hết mọi khó khăn vừa trải qua để nhớ và chia sẻ về những kỷ niệm vui, buồn một thời mà mình đã sống. Có lẽ, chuyện về thầy cô, bạn bè thời học sinh là rôm rả nhất. Bởi trong sâu thẳm của từng đứa chúng tôi vẫn dành riêng một vị trí đặc biệt cho Trường phổ thông cấp 3 Nghi Lộc 1, Nghệ An.

Bao kỷ niệm của một thời học trò bỗng chốc ùa về. Đó là buổi học cuối cùng của giờ chữa bài tập toán của thầy Dương Xuân Trãi. Bài toán giải phương trình mà Nam xung phong lên chữa. Khởi đầu anh đã giải rất nhanh bài toán ấy, nhưng khi đến đoạn giữa chừng…  Bỗng dưng Nam bối rối rồi dừng lại… Nam đã nhầm dấu “dương” sang “âm”. Điều này cứ ám ảnh bám riết Nam hoài. Để đến lúc trước khi chia tay nhau về đơn vị chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam bộ, Nam ôm chặt lấy tôi thốt lên: “Giá như sự tiếc nuối buổi học cuối cùng không trỗi dậy chế ngự trong tôi lúc đang còn giải bài toán ấy, thì tôi đâu có nhầm dấu “dương” sang dấu “âm”, bài toán ấy đã được giải xong rồi”.

Rồi chỉ có mười tháng sau đó, Trần Ngọc Nam đã hy sinh anh dũng trên mảnh đất huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Phải chăng, vì cái số “dương”, số “âm” mà anh đã nhầm. Không! Số phận đã đưa đẩy Nam nhầm như thế. Số dương và số âm ở hai miền cách biệt, mãi mãi không bao giờ gặp nhau.

Chúng tôi lại nhao nhao bình luận về các thầy cô với lòng tôn kính: “Thầy Nguyễn Trọng Bình hiệu trưởng tóc bạc sớm quá. Cái uy của Thầy làm đứa nào cũng sợ, nhưng lại rất nhận hậu, độ lượng, vị tha. Thầy có tài nói chuyện vo không giấy bút, nhưng rất khúc chiết, không vấp váp tý nào”.“Thầy cô nào ở trường mình cũng hiền và nhiệt tình giảng dạy, thương yêu học sinh”.“Mà trường mình cô giáo nào cũng xinh. Cô Liễu dạy Sinh, cô Thao dạy Sử, cô Hảo dạy Hóa… và thầy Nguyên dạy Lý chữ viết rất đẹp, bay bướm. Cái móc chữ “ơ” lại kéo ngược từ dưới lên. Rồi thầy Tý dạy Văn, thầy Trại dạy Toán, thầy Linh, thầy Đàm, thầy Hiền, thầy Phác, thầy Hân….”. Tất nhiên với các bạn bè trong lớp chả đứa nào quên được. Đấy là các bạn: Hiến, Hiếu, Di, Trung, Giáp, Hộ, Cảnh, Hồng, Lam, Thuận, Quế, Thảo… Có một điều mấy đứa chúng tôi gần như giống nhau. Cho đến bây giờ chả có đứa nào được nụ hôn của người con gái. Liều lĩnh lắm mới cầm được tay người bạn gái mà mình yêu quý.

Chúng tôi lao vào những trận đánh cam go, ác liệt. Bom rơi trên đầu, quanh mình đạn bay chiu chíu. Cả không gian chìm sâu trong những tiếng nổ ầm ầm liên hồi không dứt. Đất trời rung chuyển, mịt mù khói lửa, quánh đặc mùi lợm khét không dễ gì quên được. Chúng tôi vẫn xông lên tấn công đồn địch, nổ súng tiêu diệt chúng với tâm niệm “đạn nó tránh mình”. Nhưng sau một trận chiến kết thúc, khi đã trấn tĩnh lại mới thấy hiển hiện lên trước mắt mình những gì vừa xảy ra quá khủng khiếp, hoảng sợ đến đờ người. Những cái chết của bạn bè đồng đội ngã xuống đủ hình, đủ dạng. Rồi còn có bao nhiêu người bị thương mất đi các phần thân thể. Đất đai cày xới bật tung lên, cây cối gãy đổ tan hoang, máu nhuộm đỏ đất bùn.

Và trận đánh lại nối tiếp vào trận đánh, triền miên trong năm tháng mà không có dấu hiệu chấm dứt. Nhưng có một điều lạ. Đấy là một lần khi tiếng đạn bom vừa lắng đi giữa hai trận đánh, tôi bất ngờ nhặt được quyển vở “Bài tập đại số” của một học sinh. Chủ nhân của nó là một cô học trò miền Nam. Cầm quyển vở trong tay, tự dưng khát vọng muốn được về trường học tiếp cứ trào dâng cháy bỏng trong tôi, làm quên đi tất cả những gì hiểm nguy còn đang rình rập quanh mình. Rồi cứ thế, tôi để yên cho ký ức một thời học trò tràn về…Tôi nhớ da diết đến từng thầy cô, từng bạn bè yêu quý. Nhớ về mái trường Phổ thông cấp 3 Nghi Lộc 1 thân yêu mà lòng cứ cồn cao day dứt mãi không nguôi.

Giá như chiến tranh tàn khốc này không xảy ra? Tôi tin chắc rằng vào giờ này mình đang ngồi trên ghế giảng đường đại học để được nghe giảng như bao bạn bè khác. Tôi ngấu nghiến đọc những bài tập em đã giải. Có bài em làm đúng, nhưng cũng có nhiều bài làm sai. Có những cái sai buồn cười, ngớ ngẩn. Giá như em chú ý một tý thì bài tập này đã có lời giải đúng rồi. Nhưng cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn trong từng giây, từng phút bất kể ngày đêm. Quân địch lại đang ùn ùn tiến vào trước mặt. Chúng tôi lại xốc dậy, ôm súng xông lên chiến đấu, đối mặt với cái chết ở nơi chiến trường xa này.

Và bây giờ, trong số những người cùng nhau ra trận ngày nào, chỉ còn lại một mình tôi và Hoàng Văn Sửu (chiến đấu ở mặt trận Quảng Nam) là may mắn, sót sổ được trở về chẳng còn vẹn nguyên sau chiến tranh. Tôi mang thương tật vĩnh viễn 81%, với bảy mảnh đạn trong đầu. Còn các bạn Trần Ngọc Nam, Trần Văn Hồng, Nguyễn Văn Quế, Nguyễn Gia Thìn là cựu học sinh Trường cấp 3 Nghi Lộc 1 đã anh dũng hy sinh trên chiến trường miền Đông Nam bộ. Các anh đã không còn có cơ hội trở về dự ngày vui gặp mặt. Hài cốt của liệt sĩ Trần Ngọc Nam và liệt sĩ Trần Văn Hồng cho đến nay vẫn chưa tìm được.

Kỷ niệm 55 ngày thành lập Trường Phổ thông cấp 3 Nghi Lộc 1 hôm nay, tôi là một trong những người lính ra trận ngày ấy, may mắn có cơ hội về thăm lại mái trường xưa, được gặp lại bạn bè và các thầy cô. Đặc biệt là thầy Hiệu trưởng Nguyễn Trọng Bình và các thầy cô năm nào, chỉ để thưa rằng:“ Các thầy cô và Trường cấp 3 Nghi Lộc 1mãi mãi in sâu vào trong trái tim chúng em”.

 

10- 2016

Võ Minh


Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin mới gửi

Đăng ký thành viên

Thăm dò ý kiến

Theo bạn website này:

Giao diện đẹp, bố trí hợp lý

Mọi thứ tạm ổn

Cần bổ sung chức năng diễn đàn

Cũng bình thường

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 138

Máy chủ tìm kiếm : 98

Khách viếng thăm : 40


Hôm nayHôm nay : 12615

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 257803

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6456042